vanban.org

Bản án 53/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 12/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNVIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HS-ST
Ngày 12/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Kim.

Bà Nguyễn Thị Lại.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thế Đức- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2022/TLST-HS ngày 05/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HS ngày 27/4/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1990.

Trú tại: Thôn M, xã An D, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn M và con bà Nguyễn Thị X; vợ: Trần Thị L; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án:

+ Tại bản án số 02/2018/HSST ngày 24/01/2018 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn B 01 năm 04 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” và 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là 02 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ 31/5/2017. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2019.

+ Tại Bản án số 25/2020/HSST ngày 23/6/2020, của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn B 01 năm 04 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/7/2021.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2021 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Bắc Giang. Được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

-Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2003. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1-Chị Ngô Thị Hằng, sinh năm 1983. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

2-Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

3-Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1977. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B- sinh năm 1990, trú tại thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Trưa ngày 17/12/2021, B đón xe khách từ nhà xuống huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang mục đích để trộm cắp tài sản. Trên đường đi B nhặt được 01 (một) chiếc tô vít màu đen có cán bằng nhựa một đầu dẹt 02 cạnh dài khoản 12 cm. B cất giấu chiếc tô vít vào túi áo khoác đang mặc và đón xe khách đến khu vực chợ thôn L, thuộc xã N, huyện V, sau đó B đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến cổng trường trường mầm non Nghĩa Trung thuộc thôn Đồng Xuân, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày tại đây B quan sát thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe màu xanh-đen-bạc, biển kiểm soát 98B2 – 039... của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2003, trú tại thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang dựng trước cổng trường mầm non Nghĩa Trung không có người trông coi. B đi đến chỗ dựng chiếc xe mô tô, dùng chiếc tô vít nhặt được trước đó cho đầu tô vít vào ổ khóa xe mô tô và vặn theo chiều từ trái sang phải để phá khóa điện xe mô tô. Khi vặn được nửa vòng thì thấy đèn điện xe bật sáng. B ngồi lên xe, khởi động xe rồi điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi về nhà. Trên đường đi, B dừng lại tháo biển số xe và gương chiếu hậu để ở gác ba ga xe. Do đường xóc nên trong quá trình điều khiển xe B đã làm rơi chiếc tô vít, biển số xe mô tô và gương chiếu hậu của xe mô tô. Khi về đến nhà B lấy chiếc biển số xe máy điện biển kiểm soát 98MD8 – 011... của bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1966, trú tại thôn M, xã A, huyện V, tỉnh Bắc Giang (là mẹ ruột của B) lắp vào xe mô tô B trộm cắp được và dùng để đi lại hàng ngày và không nói cho ai biết về nguồn gốc chiếc xe trên do B trộm cắp mà có. Đến khoảng 19 giờ 30 ngày 24/12/2021, B điều khiển chiếc xe mô tô trên đi đến thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chơi thì bị lực lượng Công an thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang kiểm tra. Do sợ hãi B bỏ lại xe mô tô và bỏ trốn.

Ngày 30/12/2021, do nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn B đến Công an thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Cùng ngày, Công an thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang chuyển hồ sơ vụ việc, vật chứng và đối tượng Nguyễn Văn B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 31/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại Cổng trường mầm non Nghĩa Trung thuộc thôn Lai, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên kết quả thu giữ hình ảnh camera tại nhà anh Dương Văn N, sinh năm 1983, trú tại thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang ghi lại diễn biến B lấy cắp xe mô tô của chị L.

Ngày 17/3/2022, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn B xem lại hình ảnh camera ghi lại hình ảnh người đàn ông lấy trộm chiếc xe mô tô của chị L tại cổng trường mầm non Nghĩa Trung. B khẳng định người đàn ông lấy trộm xe mô tô trong video chính là B.

Ngày 05/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều- Công an huyện Việt Yên đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên định giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe màu xanh- đen- bạc, biển kiểm soát 98B2 – 039.7.. của chị Nguyễn Thị L.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh- đen – bạc, biển kiểm soát 98B2 – 039.7.. có giá trị 12.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 56/CT- VKS ngày 04/4/2022 của VKSND huyện Việt Yên đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173- BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của VKS đã truy tố. Nay bị cáo thấy được tội lỗi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKS sau khi phân tích tính chất của vụ án và giữ nguyên quan điểm truy tố của bản Cáo trạng, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 – BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Văn B từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/12/2021.

Không áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS để phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn B.

Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, buộc Nguyễn Văn B phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2021, tại cổng trường mầm non Nghĩa Trung, thuộc thôn Đồng Xuân, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Nguyễn Văn B đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh – đen - bạc, biển kiểm soát 98B2 – 039.7.., có giá trị 12.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị L- sinh năm 2003, trú tại: Thôn Y, xã Ng, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Nguyễn Văn B đã có 02 tiền án phạm tội do lỗi cố ý chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do lỗi cố ý thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 56/CT- VKS ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Trong vụ án này chỉ có một mình bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản có giá trị 12.000.000đồng (mười hai triệu đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho người khác về việc quản lý tài sản. Vì vậy phải có mức hình phạt tù tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục riêng và phong ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX thấy: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 – BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 329 – BLTTHS.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng khoản 5 Điều 173- BLHS để phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp pháp luật.

Trong vụ án này đối với bà Nguyễn Thị X là người đã bị B lấy chiếc biển kiểm soát xe máy điện 98MD8 – 011.3. để lắp vào xe mô tô do B trộm cắp được, quá trình điều tra bà X không biết việc B trộm cắp xe mô tô nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà X là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị X không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Sau khi vụ án được làm rõ, ngày 08/01/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chị Nguyễn Thị L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe Alpha, màu sơn xanh- đen- bạc có số khung RLHHC1219 DY318096, số máy HC12E-5318287; ngày 25/02/2022 trả lại bà Nguyễn Thị X 01 biển kiểm soát xe máy điện 98MD8 – 011.3, xét thấy là phù hợp pháp luật cần được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh:

(1) Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 – Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/12/2021.

(2) Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc Nguyễn Văn B phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.

(3) Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333, 334 - BLTTHS.

Báo cho bị cáo có mặt biết, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ