vanban.org

Bản án 53/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Công C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Quách Công C 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (Ngày 23/11/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Công Chiến - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Công C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HS-ST
Ngày: 23-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Ơn; Ông Quách Văn Tới.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 23/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Quách Công C, sinh ngày 04/01/1999 tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Vín Hoà, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn) 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Công Chợi, sinh năm 1953 và bà Bùi Thị Lin, sinh năm 1964; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 09/LC-HS ngày 13/06/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đến 08/7/2022 chuyển sang tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Có mặt.

- Bị hại:

+ Bùi Văn Vinh, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm Vổ, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;

+ Bùi Quốc Đạt, sinh năm 1994. Địa chỉ: xóm Khanh, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bùi Thị Dinh, sinh năm 1975. Địa chỉ: xóm Vín Hoà, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Người làm chứng: Bùi Thị Hương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Công C không phải là cộng tác viên của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội (MB Bank), không có khả năng làm hồ sơ vay vốn Ngân hàng, nhưng trong thời gian khoảng tháng 7 năm 2021, Chiến đã sử dụng điện thoại di động truy cập vào mạng xã hội Facebook và zalo cá nhân có tên là “Quách Chiến” để đăng tải các thông tin sai sự thật lên mạng xã hội với nội dung: tự giới thiệu bản thân “Quách Công C là cộng tác viên của MB Bank, có khả năng tư vấn và lập hồ sơ vay vốn ngân hàng mà không cần tài sản thế chấp, trên bài đăng có ghi số điện thoại 0328.173.803 của Chiến. Ngày 02/9/2021 Chiến nhận được điện thoại của Bùi Văn Vinh và Bùi Quốc Đạt với cùng nội dung nhờ Chiến làm thủ tục vay vốn của MB Bank với số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Sau khi trao đổi, Chiến yêu cầu Vinh và Đạt chuyển trước số tiền để chứng minh năng lực tài chính và bảo hiểm khoản vay cho Chiến. Cùng ngày 02/9/2021, Vinh đã chuyển khoản cho Chiến 02 lần, lần thứ nhất với số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) và lần thứ hai với số tiền 3.530.000đ (Ba triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng), tổng cộng là 28.530.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) đến số tài khoản ngân hàng 3003205146751 mang tên Quách Công C; Đạt đã chuyển số tiền 28.530.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) đến số tài khoản ngân hàng 4868688681999 mang tên Quách Công C. Ngày 25/9/2021, Chiến tiếp tục yêu cầu Vinh và Đạt chuyển thêm số tiền của mỗi người là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền phí giải ngân nhanh đến số tài khoản 3003205146751 của Chiến, đồng thời còn cam kết với Vinh và Đạt khoảng 02 (hai) đến 03 (ba) tháng sẽ được giải ngân và được trả lại toàn bộ số tiền đã đặt cọc trước đó. Tổng số tiền Chiến đã nhận của Vinh và Đạt là 64.060.000đ (Sáu mươi tư triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng), (trong đó của Vinh và Đạt mỗi người là: 32.030.000đ). Không nhận được tiền vay như Chiến đã hứa nên các ngày 10/1/2022 và ngày 21/6/2022 Vinh, Đạt lần lượt có đơn tố giác Chiến về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Quá trình điều tra, Quách Công C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu, vật chứng đã thu giữ được. Ngoài ra theo lời khai của Chiến thì sau khi nhận được tiền, Chiến đã rút toàn bộ số tiền trên đưa cho một người đàn ông tên là Tuyên ở thành phố Hải Phòng, không rõ đặc điểm nhân dạng và địa chỉ cụ thể để làm thủ tục vay vốn ngân hàng cho Vinh, Đạt nhưng sau đó không liên lạc được với người đàn ông tên Tuyên.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKS, ngày 30/09/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Quách Công C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quách Công C từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Không áp dụng hình hạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Tuyên ở thành phố Hải Phòng: Chiến khai đã chuyển số tiền 64.060.000đ (Sáu mươi tư triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) cho Tuyên bằng hình thức đưa trực tiếp bằng tiền mặt tại thành phố Hải Phòng, tuy nhiên Chiến không nhớ đặc điểm nhận dạng và địa chỉ cụ thể của người này. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không có cơ sở để tiếp tục điều tra, xác minh. Do đó đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trách nhiệm của người đàn ông tên Tuyên trong vụ án.

Đối với Bùi Thị Hương, sinh năm 1988, trú tại xóm Trung Quền, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình là người đã giới thiệu và cho Vinh, Đạt số điện thoại 0328.173.803 của Chiến để các bị hại trực tiếp liên lạc nhờ Chiến lập hồ sơ vay vốn ngân hàng. Do chị Hương không biết các bài đăng trên mạng xã hội của Chiến là sai sự thật nhằm mục đích tạo niềm tin cho bị hại và chiếm đoạt tài sản. Mặt khác Hương cũng không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của Chiến, do đó đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trách nhiệm của chị Hương trong vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Vinh và Đạt mỗi người đã nhận đủ số tiền 32.030.000đ (Ba mươi hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng). Là tiền Chiến và gia đình đã tự nguyện trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt của Vinh và Đạt. Các bị hại không yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chiến; chị Bùi Thị Dinh, sinh năm 1975. Địa chỉ: xóm Vín Hoà, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình là đại diện gia đình của bị cáo Chiến đứng ra bồi thường cho các bị hại tiền Chiến đã chiếm đoạt, chị Dinh không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự với bị cáo do đó đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án.

Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại 6S, màu vàng mà Quách Công C sử dụng để đăng tải các thông tin sai sự thật lên mạng xã hội Facebook và Zalo Chiến khai đã làm rơi và không xác định được rơi ở đâu, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không có căn cứ để xác minh, truy tìm đề nghị HĐXX không xem xét xử lý.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo không có lời bào chữa.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai bị hại; người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng tháng 07 năm 2021, Quách Công C mặc dù bản thân không phải là cộng tác viên ngân hàng nhưng đã đăng tải các thông tin sai sự thật lên mạng xã hội Facebook, zalo có tên là “Quách Chiến” tự giới thiệu là cộng tác viên của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội (MB Bank), có khả năng tư vấn và lập hồ sơ vay vốn ngân hàng mà không cần tài sản thế chấp để tìm người có nhu cầu vay vốn ngân hàng mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm cho Bùi Văn Vinh, Bùi Quốc Đạt tin là thật và chuyển cho Chiến tổng số tiền 64.060.000đ (Sáu mươi tư triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) rồi sau đó Chiến chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên.

Hành vi nêu trên của bị cáo Chiến là nguy hiểm cho xã hội, tính chất của tội phạm là nghiêm trọng đủ yêu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến đến quyền sở hữu của người khác gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức rõ sự nguy hiểm của hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần phải có hình thức xử lý phù hợp đề thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục toàn bộ hậu quả đã gây ra; bị cáo là người dân tộc thiểu số; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm cho bị cáo trong quá trình lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện tội phạm với anh Vinh và anh Đạt nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên thoả mãn quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cần cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc diện kinh tế khó khăn, bản thân không có nghề nghiệp ổn định. HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Văn Vinh; Bùi Quốc Đạt mỗi người đã nhận đủ số tiền 32.030.000đ (Ba mươi hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) và không yêu cầu gì thêm; chị Bùi Thị Dinh là đại diện gia đình của bị cáo Chiến đứng ra bồi thường tiền do Chiến đã chiếm đoạt cho bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự với bị cáo do đó HĐXX không xem xét giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án.

[6] Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại 6S, màu vàng mà Quách Công C sử dụng để đăng tải các thông tin sai sự thật lên mạng xã hội Facebook và Zalo Chiến khai đã làm rơi và không xác định được rơi ở đâu, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không có căn cứ để xác minh, truy tìm do vậy HĐXX không có cơ sở xem xét.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quách Công C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Quách Công C 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (Ngày 23/11/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo Quách Công C tại phiên toà.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Hình sự: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai tại nơi cư trú của họ.

Cỡ chữ