- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Xuân Lớp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI Bản án số 53/2022/HS-ST Ngày 30 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Huệ.
2. Bà Trần Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 30/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/HSST-QĐ ngày 15/12/2022 đối với bị cáo:
Ngô Xuân L - Sinh ngày: 08/5/1985, tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Thôn Cắp Kẹ, xã thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Ngô Quyết Tiến, sinh năm 1952 (Đã chết); mẹ đẻ: Đào Thị Tình, sinh năm 1957; trú tại thôn Cắp Kẹ, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Vợ: Đỗ Ngọc Huyền, sinh năm 1987, trú tại thôn Phú Hùng, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 85/QĐ-TA ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ngô Xuân L trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày 07/10/2021. Trong thời gian đang chấp hành biệp pháp cai nghiện thì Lớp bị cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng khởi tố, bắt tạm giam về tội "Trộm cắp tài sản" vào ngày 30//9/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/9/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng - Có mặt.
Bị hại: Anh Hoàng Minh Đức, sinh năm 1981 và chị Lê Thị Thủy, sinh năm 1985; Cùng trú tại: Thôn Tả Hà 1, xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện theo ủy quyền của chị Thủy: Anh Hoàng Minh Đức - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
1. Anh Vũ Văn Thành, sinh năm 1971; Địa chỉ: TDP phú Thành 4, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
2. Chị Cao Thị Loan, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Hùng Thắng, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt;
3. Ông Vũ Văn Mao, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn Hòa Lạc, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt;
4. Anh Phạm Quang Đại, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn An Tiến, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
5. Chị Đỗ Ngọc Huyền, sinh năm 1987; Địa chỉ: thôn Phú Hùng, xã Thống Nhất, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Ngô Xuân L làm thợ mộc tại xưởng gỗ của gia đình anh Hoàng Minh Đức từ năm 2019. Trong quá trình làm việc giữa Lớp và anh Đức xẩy ra mâu thuẫn nên Lớp nảy sinh ý định trộm cắp gỗ và máy trà nhám tại xưởng gỗ của gia đình anh Đức để mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tính từ tháng 6/2021 đến tháng 8 năm 2021, Lớp đã 10 lần trộm cắp tài sản của gia đình anh Đức cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ một ngày tháng 6 năm 2021, Ngô Xuân L đã lấy trộm 02 chân bàn thờ bằng gỗ mít có kích thước 12cm x 12 cewm x 90cm sau đó Lớp sử dụng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3-7001 chở đến bán cho cửa hàng đồ thờ cúng của anh Phạm Văn Đại, sinh năm 1975, trú tại thôn An Tiến, xã Sơn Hải với giá 300.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 02 chân bàn thờ bằng gỗ mít trị giá 800.000đồng.
Vụ thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng hai ngày sau Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 02 chân bàn thờ bằng gỗ mít có kích thước 12cm x 12cm x 90cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở đến bán cho cửa hàng đồ thờ cúng của gia đình anh Phạm Quang Đại được 200.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 02 chân bàn thờ bằng gỗ mít trị giá 800.000đồng.
Vụ thứ Ba: Cách lần thứ hai khoảng một vài ngày sau Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 04 tấm gỗ mít có cùng kích thước 10cm x 25cm x 170cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở 04 tấm gỗ anh Phạm Quang Đại được 400.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 04 tấm gỗ ván mít trị giá 400.000đồng.
Vụ thứ tư: Vào khoảng tháng 7 năm 2021 Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 02 chân bàn thờ bằng gỗ mít có kích thước 15cm x 15cm x 73cm và một tấm có kích thước 15cm x 18cm x 97cm. Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở 02 tấm gỗ này dedeens bán cho cửa hàng đồ thờ cúng của anh Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố Phú Thành 4, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng được 300.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 02 chân bàn thờ bằng gỗ mít có kích thước 15cm x 15cm x 73cm và một tấm có kích thước 15cm x 18cm x 97cm.
Vụ thứ năm: Vào khoảng cuối tháng 7 năm 2021 Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 04 tấm gỗ dổi có cùng kích thước 15cm x15 cm x 50cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3
- 7001 chở đến bán cho xưởng gỗ của ông Vu7x Văn Mao, sinh năm 1959, trú tại thôn Hòa Lạc, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai được 400.000đồngg. Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 04 tấm gỗ dổi có cùng kích thước 15cm x 15 cm x 50cm, có giá trị 2.200.000đồng.
Vụ thứ sáu: Cách vụ thứ năm khoảng vài ngày sau Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 01 tấm gỗ dổi có kích thước 15 cm x 40cm x 70cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở đến bán cho ông Vũ Văn Mao được 300.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 01 tấm gỗ dổi có kích thước 15 cm x 40cm x 70cm trị giá 2.100.000đồng.
Vụ thứ bảy: Cách vụ thứ sáu khoảng hai ngày sau Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 05 tấm gỗ dổi, gồm 02 tấm có cùng kích thước 15cm x 15cm x 50cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở đến bán cho ông Vũ Văn Mao được 900.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 02 tấm có cùng kích thước 15cm x 15cm x 50cm trị giá 4.200.000đồng; 03 tấm gỗ dổi có cùng kích thước 15cm x 15 cm x 50 cm, có gí trị 1.650.000đồng. Tổng cộng 05 tấm gỗ dổi có giá trị là 5.850.000đồng.
Vụ thứ tám: Vào khoảng tháng 8 năm 2021, Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 04 chân bàn thờ bằng gỗ mít, gồm 01 tấm có kích thước 16cm x 16cm x 118cm; 03 tấm có cùng kích thước 12cm x 13cm x 115 cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở đến bán cho cửa hàng đồ thờ cúng của gia đình chị Cao Thị Loan, sinh năm 1992, trú tại thông Hùng Thắng, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng được 650.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 01 tấm có kích thước 16cm x 16cm x 118cm, có giá trị 540.000đồng; 03 tấm có cùng kích thước 12cm x 13cm x 115 cm, có giá trị 2.700.000đồng. Tổng cộng 04 tấm gỗ mít có giá trị 3.240.000đồng.
Vụ thứ chín: Vào cuối tháng 8 năm 2021, Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 01 máy trà nhám, nhãn hiệu Maketec, loại 100 x 610mm, MT941, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wa ve màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở đến bán cho anh Phạm Quang Đại, sinh năm 1975, trú tại thôn An Tiến, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng được 800.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 01 tấm có kích thước 16cm x 16cm x 118cm; 03 tấm có cùng kích thước 12cm x 13cm x 115 cm trị giá 2.700.000đồng.
Vụ thứ mười: Sau khi lấy trộm máy trà nhám được khoảng vài ngày, Ngô Xuân L tiếp tục lấy trộm tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức 01 tấm gỗ có kích thước 15cm x 15cm x 73cm, sau đó Lớp dùng xe mô tô Wave màu đỏ đen BKS 24P3 - 7001 chở đến bán cho anh Vũ Văn Mao được 200.000đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bảo Thắng kết luận: 01 tấm gỗ có kích thước 15cm x 15cm x 73cm trị giá 500.000đồng.
Trong quá trình Ngô Xuân L bán gỗ và máy trà nhám cho anh Phạm Quang Đại, anh Vũ Văn Thành, ông Vũ Văn Mao và chị Cao Thị Loan thì Lớp đều nói cho những người nàu là tài sản của Lớp, Lớp không nói cho họ biết là tài sản do trộm cắp mà có. Tổng giá trị tài sản do Lớp bán được là 4450.000đồng. Tổng trị giá tài sản do lớp tyroomj cắp của anh Hoàng Minh Đức có giá trị 23.470.000đồng.
Tại kết luận giám định số 591/CNR-VP ngày 19/10/2022 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, kết luận: 02 mẫu gỗ do Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng cung cấp có ký hiệu là M1 và M2 là gỗ Mít và gỗ dổi xanh, không có tên trong danh mục động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Mẫu vật đã sử dụng hết trong giám định không hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Minh Đức yêu cầu các bị cáo Ngô Xuân L phải bồi thường số tiền 11.200.000đồng, là giá trị của 12 tấm gỗ mà bị cáo Lớp trộm cắp của anh Đức đem đi tiêu thụ nhưng không thu hồi được. Bị cáo Ngô Xuân L nhất trí bồi thường nhưng do bị cáo đang tạm giam nên chưa có điền kiện để bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSBT ngày 18/11/2011 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Ngô Xuân L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Xuân L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Xuân L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều Áp dụng Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Ngô Xuân L phải bồi thường cho anh Hoàng Minh Đức số tiền 11.200.000đồng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu 01 xe mô tô BKS 24P3-7001 để sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra đề nghị HĐXX tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Xuân L đã thừa nhận 10 lần thực hiện hành hành vi trộm cắp tài sản tại xưởng gỗ của anh Hoàng Minh Đức gồm 01 máy trà nhám, có giá trị 2.700.000đồng; 10 tấm gỗ dổi, có giá trị 10.150.000đồng; 15 tấm gỗ mít có giá trị 10.620.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 23.470.000đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Ngô Xuân L ra trước tòa hôm nay về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Ngô Xuân L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết nhất định về pháp luật. Do bị cáo là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu sài cá nhân, trong thời gian từ tháng 6 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022 bị cáo Ngô Xuân L đã lợi dụng sự sơ hở quản lý tài sản của anh Hoàng Minh Đức bị cáo đã trộm cắp tài sản của anh Đức có giá trị 23.470.000đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội " Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điều 173 BLHS. Ngoài ra đối với hành vi trộm cắp tài sản trong các lần thứ 3, thứ 5, thứ 6 và thứ 7 thứ 8, thứ 9 tài sản chiếm đoạt ở các lần đó có giá trị trên 2.000.000đồng, vì vậy bị cáo Ngô Xuân L phải chịu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tình tiết "Phạm tội 02 lần trở lên" theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần phải đưa xử lý nghiêm minh trước pháp luật và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[3] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Minh Đức yêu cầu bị cáo Ngô Xuân L phải bối thường thiệt hại về trị giá tài sản là 11. 200.000đồng, là giá trị của 12 tấm gỗ mà bị cáo Lớp trộm cắp của anh Đức đem đi tiêu thụ nhưng không thu hồi được. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ, vì vậy cần buộc bị cáo Ngô Xuân L phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 11.200.000.000đồng.
Đối với anh Phạm Quang Đại, anh Vũ Văn Thành, ông Vũ Văn Mao và chị Cao Thị Loan là những người mua tài sản do bị cáo Ngô Xuân L trộm cắp mà có, tuy nhiên tại thời điểm mua bán anh Đại, anh Thành, ông Mao, chị Loan đều không hứa hẹn trước và không biết nguồn gốc các tài sản đó là bị cáo trộm cắp mà có, do đó cơ quan điều tra không đề cấp xử lý đối anh Đại, anh Thành, ông Mao và chị Loan.
Đối với số tiền 300.000đồng anh Thành đã trả cho bị cáo Lớp để mua 02 tấm gỗ mít; số tiền 650.000đồng chị Loan đã trả cho bị cáo Lớp để mua 04 tấm gỗ mít; số tiền 1.800.000đồng ông mao đã trả cho bị cáo Lớp để mua gỗ của bị cáo Lớp; số tiền 1.700.000đồng, anh Đại trả cho bị cáo Lớp để mua gỗ. Nay anh Thành, chị Loan, ông Mao, anh Đại đều cho bị cáo Lớp số tiền này và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng tạm giữ của anh Vũ Văn Thành 02 tấm gỗ mít; tạm giữ của chị Cao Thị Loan 03 tấm gỗ mít; tạm giữ của ông Vũ Văn Mao 08 tấm gỗ dổi; tạm giữ của vợ bị cáo Lớp là chị Đỗ Ngọc Huyền 01 xe mô tô WaveS màu đỏ BKS 24P3 - 7001.
Đối với các tài sản tạm giữ của anh Thành, anh Đại, ông Mao, chị Loan xác định là tài sản của bị hại Hoàng Minh Đức nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đức nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô tạm giữ của chị Đỗ Ngọc Huyền, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, bị cáo đã dùng chiếc xe trên làm phương tiện phạm tội, vì vậy HĐXX cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo Ngô Xuân L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Tại phiên tòa các bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân L phạm tội "Trộm cắp tài sản"; xử phạt bị cáo Ngô Xuân L 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Ngô Xuân L phải bồi thường cho anh Hoàng Minh Đức và chị Lê Thị Thủy số tiền 11.200.000đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu của Ngô Xuân L 01 xe mô tô, loại xe Wave S, trên vỏ máy có trữ Detech, màu đỏ, biển số 24P3- 7001, số khung 7B306074, số máy 306074, xe cũ đã qua sử dụng, để sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Ngô Xuân L phải chịu 200.000đ tiền án phí sơ thẩm và 560.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Tổng cộng 760.000đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LC; VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện BT (02); - CA Bảo Thắng (2); - Cơ quan THAHS Công an tỉnh LC; - Trại giam Công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - Bị cáo; Bị hại (02); THA (2); - Lưu HS,TA,THS,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lìn Thị Lài |