- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T và bị hại Trương Thị H; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HS-PT Ngày 28-10-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái
Các Thẩm phán: Ông Vi Đức Trí
Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Tống Văn Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 72/2022/TLPT-HS
ngày 06 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Ngô Văn T, do có kháng cáo của bị
cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2022/HS-ST ngày 29 tháng
8 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo: Ngô Văn T, sinh ngày 20/02/1965 tại thành phố L, tỉnh Lạng
Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã M, thành phố L, tỉnh
Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Tày; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M (đã chết)
và bà Vi Thị Ô; có vợ là Kiềng Thị D và 03 con; tiền án, tiền sự: Không có;
nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành
chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi
nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Bà Trương Thị H, sinh năm 1966; trú tại: Thôn B, xã M, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Ngô Thị C, sinh
năm 1993, trú tại: Xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2007 gia đình bà Trương Thị H và gia đình Ngô Văn T có thỏa
thuận miệng về việc đổi thửa ruộng số 215 của gia đình bà Trương Thị H cho gia đình Ngô Văn T để canh tác, trồng rau. Chiều ngày 04/3/2022, bà Trương Thị H đến nhà Ngô Văn T đề nghị Ngô Văn T nhổ gốc rau để bà Trương Thị H làm ruộng mạ nhưng Ngô Văn T không đồng ý.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2022, Ngô Văn T ra thửa ruộng số 215
thấy trên bờ ruộng có nhiều gốc rau bắp cải của gia đình trồng đã bị nhổ lên, bà Trương Thị H đang cuốc xới đất. Ngô Văn T gọi con trai là Ngô Văn P đến khu vực ruộng rau để quay video và gọi điện trình báo Công an xã M, thành phố L đồng thời yêu cầu bà Trương Thị H dừng lại nhưng bà Trương Thị H vẫn tiếp tục cuốc, xới đất thì hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, Ngô Văn T dùng tay nhổ 01 đoạn gậy tre dài khoảng 1,2m thân gậy hình tròn có đường kính 03cm cắm ở bờ ruộng lao về phía bà Trương Thị H đánh 01 phát trúng vào vùng đầu trái thì bà Trương Thị H ngã xuống, Ngô Văn T tiếp tục dùng gậy đánh bà Trương Thị H thêm 01 phát nữa thì trúng vào vùng cổ của bà Trương Thị H. Sau đó, bà Trương Thị H giơ cuốc đánh về phía Ngô Văn T nhưng không trúng, Ngô Văn T tiếp tục dùng gậy đánh bà Trương Thị H nhưng được bà Kiềng Thị D đến can ngăn, bà Trương Thị H được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn chữa trị vết thương.
Ngày 18/3/2022 bà Trương Thị H viết đơn trình báo đề nghị truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với Ngô Văn T.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 78/2022/TTPY ngày
04/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại của bà Trương Thị H: Sẹo vết thương vùng thái dương đỉnh trái tỷ lệ 01%, đau đầu đã điều trị điện não ổn định 01%. Tổng tỷ lệ 02%.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định
giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L ngày 05/5/2022 kết luận: 123 (một trăm hai mươi ba) gốc rau bắp cải cao khoản 20cm (đã thu hoạch bắp) tại thời điểm định giá tháng 5/2022 không có giá trị.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa
án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s, i, x khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Ngô Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29-8-2022.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Trương Thị H tổng các khoản là 6.192.000 đồng (sáu triệu một trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, miễn án phí cho bị
cáo, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, ngày 12/9/2022 bị hại
Trương Thị H có đơn kháng cáo đề tăng mức hình phạt đối với bị cáo từ 06
tháng tù cho hưởng án treo lên 03 năm tù, tăng mức bồi thường thiệt hại lên
25.630.000 đồng.
Ngày 13/9/2022 bị cáo Ngô Văn T có đơn kháng cáo đề nghị giảm mức
bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn T và bị hại Trương Thị H giữ nguyên nội
dung kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Ngô Thị
C không có ý kiến gì.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Trên cơ sở các
chứng cứ tài liệu đã được thẩm vấn, công khai làm rõ tại phiên tòa có đủ căn cứ
khẳng định Bản án sơ thẩm kết án bị cáo Ngô Văn T về tội Cố ý gây thương tích
là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính
chất, mức độ, vai trò hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức án 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo và tuyên
phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 6.192.000 đồng là phù hợp với các quy
định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị hại không đưa ra được căn cứ nào cho
kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo, bị cáo
cũng không có căn cứ nào mới cho kháng cáo xin giảm mức bồi thường thiệt
hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại;
xử giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo, bị hại làm trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Xét yêu cầu kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của bị hại Trương
Thị H Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc xảy ra xô xát giữa bị hại và bị cáo xuất
phát từ việc tranh chấp đất đai, trong quá trình lời qua tiếng lại, do không giữ
được bình tĩnh, bị cáo đã sử dụng gậy tre đánh bà Trương Thị H 02 phát trúng
vào vùng đầu và vùng cổ của bà Trương Thị H gây tỷ lệ thương tích là 02%. Vì
vậy, với hành vi của mình, bị cáo Ngô Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về
tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm
2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan. Tòa án cấp sơ thẩm
đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và là con của liệt sỹ theo
điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và ấn định mức hình phạt 06 (sáu)
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm là phù hợp với
quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bà Trương Thị H không xuất trình
được căn cứ mới cho kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm mức bồi thường, yêu cầu
kháng cáo của bị hại về việc tăng mức bồi thường Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Quyền được đảm bảo an toàn về sức khỏe là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, là khách thể được pháp luật ưu tiên bảo vệ, nhưng chỉ vì mâu thuẫn không đáng có mà bị cáo đã gây thương tích cho bị hại. Xét thấy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các chi phí hợp lý và tuyên bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 6.192.000 đồng gồm các khoản: Tiền thuốc men và dịch vụ y tế theo hóa đơn dịch vụ là 372.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại trong 03 ngày điều trị và 04 ngày nghỉ ngơi là 300.000 đồng/ngày x 07 ngày = 2.100.000 đồng; tiền mất thu nhập của người phục vụ trong 04 ngày là 350.000 đồng/ngày x 04 ngày = 1.400.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe là 100.000 đồng/ngày x07 ngày= 700.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất tinh thần 01 tháng lương cơ sở = 1.490.000 đồng; tiền xe cấp cứu 130.000 đồng. Mức bồi thường thiệt hại mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với các quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị hại xuất trình thêm được 02 hóa đơn thanh toán chi phí khám chữa bệnh ngày 29/3/2022 với tổng số tiền là 103.000 đồng; tuy nhiên hóa đơn khám chữa bệnh trên không thể hiện là khám bệnh gì, tại Bệnh án điều trị của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn ngày 08/3/2022 không có chỉ định khám lại. Bị cáo không xuất trình được tình tiết mới cho kháng cáo giảm mức bồi thường thiệt hại của mình. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại về phần bồi thường thiệt hại.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên
tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ điểm d, đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Ngô Văn T và bị hại Trương Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn T và bị hại Trương Thị H; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Cụ thể:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, khoản 1,
2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ Điều 2, 4, 5, 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm d, đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội Cố ý gây thương
tích.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng
án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Ngô Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh
Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách
nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02
lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Ngô Văn T phải bồi
thường cho bị hại Trương Thị H tổng số tiền 6.192.000 đồng (sáu triệu một trăm
chín mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực người được thi hành án có đơn yêu cầu thi
hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số
tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều
357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Ngô Văn T và bị hại Trương Thị H không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (28/10/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 06 CA tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS TP L, tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Những người tham gia tố tụng. - Lưu: HS, Tòa HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Sơn Thái |