vanban.org

Bản án 53/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí, lệ phí Tòa án. Phan Thị Bích Thủy và anh Nguyễn Văn Vàng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng T ly hôn Cao Hữu D"
  • Tòa quyết gì? hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-8-2022
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hòa Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Phương

2. Bà Nguyễn Thị Kiều Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân

thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 216/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số

309, Trần Phú, khóm Long C, phường Long C, thị xã Tân C, tỉnh An Giang ( Có mặt)

- Bị đơn: Anh Cao Hữu D, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Tổ 06, khóm

Long QB, phường Long P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 4 năm 2022 và các lởi khai trong

quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D sau thời gian tìm hiểu và quyết

định sống chung, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND phường Long P, thị xã Tân C, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54 ngày 28/05/2012. Cuộc sống chung hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D sa vào tệ nạn xã hội, không chăm lo cho vợ con, cuộc sống kinh tế gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gia đình đã khuyên nhủ nhiều lần, nhưng không được. Hiện tại, đã không sống chung 08 năm nay, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh D.

- Về nuôi con chung: Chị T và anh D có 01 đứa con chung tên Cao

Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 26/09/2011 đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung : Không có

Bị đơn: Anh Cao Hữu D có hộ khẩu thường trú tại: Tổ 06, khóm Long

Qưới B, phường Long P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang. Anh D không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai của anh D, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng bằng cách thông qua người thân cùng nơi cư trú của anh D theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự:

Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và

quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham giam tố tụng từ giai đoạn thụ

lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Về nội dung:

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82,

83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và anh

Cao Hữu D.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54 ngày 28/05/2012 do UBND

phường Long P, thị xã Tân C cấp cho Nguyễn Thị Hồng T và anh Cao Hữu D không còn giá trị pháp lý.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Cao Nguyễn Mỹ N, sinh ngày

26/09/2011 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị T tạo mọi điều kiện thuận lợi cho anh D thăm non, chăm sóc con

chung, không ai có quyền cản trở anh D thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai trong quá trình sống chung

với anh D không tạo lập được tài sản chung và không nợ ai, tuy nhiên do anh D vắng mặt không có lởi khai nên chưa xác định được, đề nghị không đề cập giải quyết về tài sản chung và nợ chung, sau này có tranh chấp giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự hôn nhân gia

đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên

tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:

[ 1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu ly

hôn với anh Cao Hữu D có địa chỉ cứ trú tại: Tổ 06, khóm Long Qưới B, phường Long P, thị xã Tân C, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Cao Hữu D vắng mặt tại phiên

tòa lần thứ hai, không có lý do, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh D.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D sau thời gian tìm hiểu và

quyết định sống chung, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND phường Long P, thị xã Tân C, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54 ngày 28/05/2012 là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu

thuẩn, nguyên nhân là do anh D sa vào tệ nạn xã hội, không chăm lo cho vợ con, cuộc sống kinh tế gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gia đình đã khuyên nhủ nhiều lần, nhưng không được. Hiện tại, đã không sống chung 08 năm nay, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh D.

Anh D vắng mặt tại nơi cư trú, do đó Tòa án không ghi được lời khai

của anh D, qua xác minh người thân của anh D thì được biết, anh D có sa vào tệ nạn xã hội, cuộc sống chung giữa chị T và anh D không hạnh phúc, tại phiên tòa mặc dù Hội đồng xét xử động viên chị T đoàn tụ, nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn, điều này cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần cho ly hôn giữa chị T với anh D là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54 ngày 28/05/2012 do UBND

phường Long P, thị xã Tân C cấp cho Nguyễn Thị Hồng T và anh Cao Hữu D không còn giá trị pháp lý.

Về con nuôi chung: Chị T và anh D 01 đứa con chung tên Cao

Nguyễn Mỹ N, sinh ngày 26/09/2011 đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Nhận thấy, cháu Ngân sống với chị T ổn định, cháu Ngân có nguyên

vọng sống với mẹ, do đó căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Ngân cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị T tạo mọi điều kiện thuận lợi cho anh D đến thăm non, chăm sóc

con chung, không ai có quyền cản trở anh D thực hiện quyền này.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai trong quá trình sống

chung với anh D không tạo lập được tài sản chung và không nợ ai, tuy nhiên do anh D vắng mặt không có lời khai nên chưa xác định được chị T và anh D có tài sản chung hay có nợ ai không, do đó không đề cập giải quyết về tài sản chung và nợ chung, sau này có tranh chấp giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng

dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006292 ngày 16 tháng 05 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng T và

anh Cao Hữu D.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54 ngày 28/05/2012 do UBND

phường Long P, thị xã Tân C cấp cho Nguyễn Thị Hồng T và anh Cao Hữu D không còn giá trị pháp lý.

- Về nuôi con chung: Giao cháu Cao Nguyễn Mỹ N, sinh ngày

26/09/2011 cho chị Nguyễn Thị Hồng T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Cao Hữu D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Hồng T tạo mọi điều kiện thuận lợi cho anh Cao Hữu

D đến thăm non, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở anh D thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 300.000 (ba trăm

nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006292 ngày 16 tháng 05 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng T có mặt tại phiên tòa có

quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Riêng anh Cao Hữu D vắng mặt tại phiên tòa cũng có quyền kháng cáo

trong thời hạn trên, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại

Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh An Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TX.Tân Châu;

- Chi cục THADS TX. Tân Châu;

- UBND phường Long Phú;

- Các đương sự (để thi hành);

- Lưu: Hồ sơ, V.phòng.

Phạm Hòa Bình

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ