- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phai - Tuyen"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2022 V/v tranh chấp: “ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Bảo Trâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Mạnh Quyết.
2. Ông Trần Văn Nhị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2022/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông A, sinh năm 1935 (có đơn xin vắng).
Địa chỉ: ấp 5, xã C, huyện T, tỉnh Long An.
2.Bị đơn: Bà B, sinh năm 1946 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 2, xã D, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông và bà B đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/7/2020. Sau khi kết hôn thì hôn nhân không thực tế, nhà ai nấy ở, không có sự quan tâm chăm sóc nhau, không đem lại hạnh phúc cho nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông A yêu cầu ly hôn với bà B.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung và nợ chung: ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có bản tự khai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà B biết Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của ông A nhưng bà B không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc ông A xin ly hôn.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật theo quy định pháp luật. Riêng bà B chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bà theo thủ tục tố tụng, tuy nhiên việc xét xử vắng mặt bà B không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, bà B không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng không có ý kiến. Xét mâu thuẫn trầm trọng nên ông A yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: không có. Về tài sản chung, nợ chung, ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Ông A và bà B kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/7/2020. Nay ông A khởi kiện xin ly hôn làm phát sinh quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do bà B hiện cư ngụ tại huyện T, tỉnh Long An nên khi ông A có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An giải quyết theo trình tự sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do vắng mặt đương sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên toà, bà B là bị đơn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho bà B Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng bà B vẫn không đến tham gia phiên tòa. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An đưa ra xét xử vắng mặt bà B là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, ông A vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Xét yêu cầu của ông A, Hội đồng xét xử thấy:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà B có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ khi có tranh chấp.
Xét thấy, ông A và bà B kết hôn chưa lâu, nguyên nhân mâu thuẫn theo ông A trình bày là do sau khi kết hôn vợ chồng không có chung sống với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau, không đem lại hạnh phúc cho nhau, nay tình cảm vợ chồng không còn. Tuy bà B vắng mặt tại phiên toà và suốt quá trình tố tụng, không xác định nguyên nhân mâu thuẫn nhưng theo kết quả xác minh của Công an xã D, huyện T, tỉnh Long An thì bà B có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ: ấp 2, xã D, huyện T, tỉnh Long An. Hiện bà B đang sinh sống tại địa phương và Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết công khai tại nơi cư trú cho bà B các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng bà B không đến Tòa án tham gia tố tụng, không tham gia phiên hoà giải và phiên toà để giải quyết vụ án, không có ý kiến hay yêu cầu gì thể hiện việc bà B không thiết tha hàn gắn tình cảm với ông A, không quan tâm yêu cầu xin ly hôn của ông A. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ tình cảm giữa ông A và bà B không còn, không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông A đối với bà B là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: ông A xác định không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: ông A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng do ông A thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí Toà án nên không phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205, 207; Các điều 147, 227, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điều 51, 56 Luật Hôn nhân – gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A.
Về quan hệ hôn nhân: Ông A được ly hôn với bà B.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung và nợ chung: ông A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: ông A không phải nộp án phí. Do ông A thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí Toà án nên không phải hoàn lại tạm ứng án phí.
Án xét xử sơ thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã D; - Các đương sự; - Án văn, Lưu; | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hồ Bảo Trâm |