vanban.org

Bản án 53/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Thu T ly hôn. Về nuôi con chung: Giao con Võ Thị Ái V, sinh ngày 16/02/2016 cho ông Võ Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị Thu T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ NINH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-5-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thu Thủy, bà Lê Thị Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn N, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.

Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Võ Văn N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thu T tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào năm 2015. Trong thời gian chung sống giữa vợ chồng ông luôn xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau. Nay ông thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng ông có 01 con chung là Võ Thị Ái V, sinh ngày 16/02/2016. Khi ly hôn ông có nguyện vọng trực tiếp nhận nuôi cháu V đến khi thành niên đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin trình bày ý kiến, đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu T trình bày: Bà kết hôn với ông Võ Văn N từ tháng 01/2015, đến năm 2016 bà và ông N có 01 người con chung tên Võ Thị Ái V. Đến năm 2018 bà và ông N ly thân cho đến nay do không hợp nhau. Ngày 17/3/2022 bà nhận được giấy của Toà án về việc ly hôn giữa bà và ông N. Bà chấp nhận ly hôn theo như đơn ông N gửi, con gái Võ Thị Ái V do ông Võ Văn N nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật; Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Võ Văn N. Về con chung: Giao con Võ Thị Ái V, sinh ngày 16/02/2016 cho ông Võ Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Ông N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được công bố tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Ông Võ Văn N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T có nơi cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T vào năm 2015 nên hôn nhân của họ là hợp pháp. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Ông N và bà T sống ly thân từ năm 2018 đến nay và không liên lạc với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T không đến Tòa án, không tham gia hòa giải, điều đó cho thấy bà T không có thiện chí để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của nguyên đơn Võ Văn N là đúng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Ông N và bà T có 01 con chung là Võ Thị Ái V, sinh ngày 16/02/2016. Xét thấy, ông N có nguyện nuôi cháu V và hiện nay cháu V đang sinh sống với ông N, bà T cũng thống nhất giao con cho ông N nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu V cho ông N nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi của con, phù hợp với quy định của pháp luật. Ông N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Ông N khai không có, bà T không có ý kiến gì nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Ông Võ Văn N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; Điều 147, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Thu T ly hôn.

Về nuôi con chung: Giao con Võ Thị Ái V, sinh ngày 16/02/2016 cho ông Võ Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị Thu T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Võ Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0010356, ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Ông N đã nộp đủ tiền án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ