vanban.org

Bản án 53/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc B, anh Trần Quốc B được ly hôn với chị Ngô Anh Th.

Về nuôi con chung: Anh Trần Quốc B được tiếp tục nuôi cháu Trần Quốc T, sinh ngày 15/12/2019. Chị Ngô Anh Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh Trần Quốc B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc B, anh Trần Quốc B được ly hôn với chị Ngô Anh Th.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST
Ngày 21-6-2022
V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Ngọc Dung.

Ông Trần Thanh Liêm.

-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2021/TLST – HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Quốc B, sinh năm 1996 (có mặt).

Cư trú tại: Ấp Đ, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Ngô Anh Th, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp Đ, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 06/12/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trần Quốc B trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Ngô Anh Th tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm, gia đình hai bên đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu ly hôn với chị Ngô Anh Th.

Về nuôi con chung: Gồm có 01 người tên Trần Quốc T, sinh ngày 15/12/2019. Hiện đang sống cùng anh B. Sau khi ly hôn anh B có yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị Ngô Anh Th trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc B tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng thường hay cự cải, bất đồng quan điểm. Nay anh B yêu cầu ly hôn chị đồng ý.

Về nuôi con chung: Gồm có 01 người tên Trần Quốc T, sinh ngày 15/12/2019. Hiện đang sống cùng anh B. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao cháu T cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Ngô Anh Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa anh B bảo lưu quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hôn nhân: Anh Trần Quốc B và chị Ngô Anh Th tìm hiểu, tự nguyện kết hôn vào năm 2018 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 90 năm 2018 đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Anh B nhận thấy cuộc sống của anh chị có nhiều bất hòa, hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh B yêu cầu ly hôn, chị Th đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của anh B và chị Th là có xảy ra, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho anh anh. Xét thấy, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Quốc B, anh B được ly hôn với chị Ngô Anh Th.

Về nuôi con chung: Gồm có 01 người tên Trần Quốc T, sinh ngày 15/12/2019. Sau khi ly hôn anh B, chị Th đều Thống nhất để anh Trần Quốc B tiếp tục nuôi cháu Trần Quốc T. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật. Đồng thời cháu T đang sống cùng anh B và phát triển bình thường, anh B đủ điều kiện nuôi con nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử quyết định để anh B tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Quốc T, sinh ngày 15/12/2019. Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về chia tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Quốc B phải chịu 300.000 đồng. Anh B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019892 ngày 21/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quốc B, anh Trần Quốc B được ly hôn với chị Ngô Anh Th.

Về nuôi con chung: Anh Trần Quốc B được tiếp tục nuôi cháu Trần Quốc T, sinh ngày 15/12/2019.

Chị Ngô Anh Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh Trần Quốc B.

Về chia tài sản: Không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Quốc B phải chịu 300.000 đồng. Anh B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019892 ngày 21/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi"nhận:

Cỡ chữ