- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Mỹ O (ông Vũ Tuấn A đại diện), yêu cầu chị Huỳnh Thị V trả số tiền hụi 85.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/DS-ST. Ngày: 11/8/2022. Về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự hụi”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Kiều;
2. Ông Bùi Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1235/2021/TLST-DS, ngày 20 tháng 12 năm 2021, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2021/QĐXXST-DS, ngày 16/6/2022, giữa các đương sự
- Nguyên đơn: Võ Thị Mỹ O, sinh năm 1975, địa chỉ: Tổ A, ấp ĐT, xã TTĐ, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Vũ Tuấn A, sinh năm 1970, địa chỉ: Số A, đường CL, Phường B, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, là đại diện theo ủy quyền.
- Bị đơn: Huỳnh Thị V, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ T, ấp TP, xã TTĐ, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Vũ Tuấn A có mặt, chị Huỳnh Thị V vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn Võ Thị Mỹ O (Ông Vũ Tuấn A đại diện) trình bày: Chị V tham gia hụi do chị O làm chủ hụi cụ thể như sau
- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 06/9/2019 ÂL (ngày 04/10/2019 DL), mãn hụi ngày 06/3/2021 ÂL (ngày 17/4/2021 DL), mỗi lần đóng hụi 5.000.000 đồng, dây hụi gồm 20 phần (16 người), 01 tháng khui hụi một lần. Dây hụi này chị V tham gia 02 chân hụi, ghi tên trong sổ hụi là “Chị V”.
Chân hụi thứ nhất chị V hốt tiền hụi tại lần thứ 1 (kỳ tháng 9/2019 ÂL), với số tiền 69.500.000 đồng, khi hốt hụi chị V có ký và viết họ tên xác nhận vào “Sổ hụi”, chị V đóng hụi chết được 03 lần (đóng đến kỳ tháng 12/2019 ÂL). Theo đó, chị V còn phải đóng 16 lần hụi chết với số tiền là 5.000.000 đồng x 16 lần = 80.000.000 đồng.
Chân hụi thứ hai, chị V hốt tiền hụi tại lần thứ 2 (kỳ tháng 10/2019 ÂL) với số tiền là 64.100.000 đồng. Khi hốt hụi chị V có ký xác nhận vào “Sổ hụi”, chị V đóng hụi chết được 02 lần (đóng đến kỳ tháng 12/2019 ÂL). Theo đó, chị V còn phải đóng 16 lần hụi chết với số tiền 5.000.000 đồng x 16 lần = 80.000.000 đồng.
Như vậy, dây hụi này chị V còn phải đóng hụi chết cho cả 02 chân hụi tổng cộng là 160.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 10/11/2019 ÂL (tức 15/12/2019 DL), mãn hụi ngày 10/8/2021 ÂL (tức ngày 19/9/2021 DL), mỗi lần đóng hụi 5.000.000 đồng, hụi gồm 23 phần (18 người tham gia), 01 tháng khui hụi một lần, chị V tham gia 01 chân, sổ hụi ghi tên “Chị V”.
Dây hụi này chị V hốt tiền hụi tại lần thứ 1 (kỳ tháng 11/2021 ÂL) với số tiền 77.800.000 đồng, chị V đóng được 02 lần hụi chết (đóng đến kỳ tháng 01/2020 ÂL). Theo đó, chị V còn phải đóng 20 lần hụi chết với số tiền 5.000.000 đồng x 20 lần = 100.000.000 đồng.
Tổng cộng cả 02 dây hụi (03 chân), chị V còn phải đóng (góp) hụi chết với số tiền 260.000.000 đồng.
Do chị V không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi nên chị O đã khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị V phải trả cho chị O số tiền hụi là 260.000.000 đồng. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2020/DS-ST ngày 29/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và Bản án dân sự phúc thẩm số 198/2021/DS-PT ngày 16/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp tuyên xử, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị O, buộc chị V phải trả cho chị O số tiền hụi của dây hụi 1 là 120.000.000 đồng và dây hụi 2 là 55.000.000 đồng và đình chỉ trả lại yêu cầu khởi kiện của chị O đối với số tiền hụi 40.000.000 đồng của dây hụi 1 và 45.000.000 đồng của dây hụi 2 do chưa đủ điều kiện khởi kiện, bởi tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 29/12/2020, dân hụi vẫn còn đang diển ra, chưa mãn hụi.
Nay chị O (ông Vũ Tuấn Anh đại diện), yêu cầu chị V phải trả số tiền hụi 40.000.000 đồng của dây hụi 1 (khui ngày 06/9/2019 âm lịch) và 45.000.000 đồng của dây hụi 2 (khui ngày 10/11/2019 âm lịch), từ tháng 12 đến tháng 09/2021, tổng cộng là 85.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện. nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự hụi, với bị đơn Huỳnh Thị V, địa chỉ: xã TTĐ, thành phố Cao Lãnh. Căn cứ vào khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn Huỳnh Thị V vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2020/DS-ST ngày 29/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và Bản án dân sự phúc thẩm số 198/2021/DS-PT ngày 16/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xác định chị V có tham gia 02 dây hụi do chị O làm chủ hụi, chị V đã hốt hụi và còn nợ tiền hụi chưa góp, với số tiền là 285.000.000 đồng. Tuy nhiên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị O, buộc chị V phải trả cho chị O số tiền hụi của dây hụi 1 là 120.000.000 đồng và dây hụi 2 là 55.000.000 đồng, tổng cộng của hai dây hụi là 175.000.000 đồng và đình chỉ yêu cầu của chị O đối với số tiền hụi 40.000.000 đồng của dây hụi 1 và 45.000.000 đồng của dây hụi 2, do tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 29/12/2020, hai dây hụi này vẫn còn đang diển ra, chưa mãn hụi.
Như vậy, theo bản án nêu trên thì chị V còn phải có nghĩa vụ góp tiền hụi chết cho chị O, gồm: 40.000.000 đồng của dây hụi 1 và 45.000.000 đồng của dây hụi 2, tổng cộng tiền hụi chị V phải góp cho chị O của hai dây hụi là 85.000.000 đồng.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn Huỳnh Thị V không có văn bản ý kiến trả lời, và cũng không có mặt tại phiên tòa để đối chất với nguyên đơn.
Ngoài ra, lời trình bày của chị O (ông Tuấn Anh đại diện) phù hợp với nội dung các sổ hụi và danh sách hụi viên.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận yêu cầu của chị O (ông Tuấn Anh đại diện), yêu cầu chị V trả tiền hụi tổng cộng là 85.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị V có trách nhiệm trả cho chị O số tiền 85.000.000 đồng nên phải chịu án phí 4.250.000 đồng (85.000.000 đồng x 5%), theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Mỹ O (ông Vũ Tuấn A đại diện), yêu cầu chị Huỳnh Thị V trả số tiền hụi 85.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Buộc chị Huỳnh Thị V trả cho chị Võ Thị Mỹ O số tiền hụi 85.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Thị V phải chịu 4.250.000 đồng, chị O được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.125.000 đồng, theo biên lai số 0005310, ngày 15/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TPCL; - TAND tỉnh ĐT; - Các đương sự. - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |