vanban.org

Bản án 53/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Buộc Ông Hồ V A phải trả cho Ngân hàng TMCP H tổng số tiền là 82.

Kể từ ngày 27/9/2022 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xử: Buộc Ông Hồ V A phải trả cho Ngân hàng TMCP H tổng số tiền là 82.
  • Căn cứ chính? Điều 299 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/DS-ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2022
Về tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Nam

Ông Trịnh Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Thê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26, 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 40/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2022, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-DS ngày 30/8/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H; Địa chỉ: Số 130 đường P, phường T, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: ông Võ Minh Tuấn – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thu Hà – Chức vụ: Gíam đốc Phòng giao dịch Hải Châu – Chi nhánh Đà Nẵng, (theo Giấy ủy quyền số 3903/2019/GUQ-PL ngày 16/12/2019 và Giấy ủy quyền số 14/GUQ-CNĐN ngày 12-11-2020) và bà Lê Thị Thảo – Chức danh: Nhân viên KHCN – Phòng Giao dịch Hải Châu – Chi nhánh Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 14/QĐ-DAB.HCU ngày 27/9/2022) ; Địa chỉ: 176 Nguyễn Văn Linh, phường Nam Dương, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Hồ V A, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Số 281 đường C, phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập, tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc tham gia tố tụng với bên bị đơn):

Trung Đoàn tên lửa 282; Địa chỉ: 281 đường C, phường A, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Kế Nghiệp – Chức vụ: Trung đoàn trưởng. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2022, bản tự khai ngày 12/8/2022 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H trình bày:

Ông Hồ V A có vay vốn tại Ngân hàng TMCP H – CN Đà Nẵng – PGD Hải Châu theo Giấy đăng kí vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ký ngày 13/06/2016 và Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ đã được Ông A ký nhận nợ số 0123958101T16076 ngày 28/6/2016, với số tiền 120.000.000đ; Lãi suất 8%/năm, lãi suất tính theo dự nợ ban đầu; Thời hạn vay: 48 tháng, từ 28/06/2016 đến 28/06/2020; Mục đích vay tiêu dùng trả góp. Trong quá trình vay, từ ngày 28/06/2016 đến ngày 26/12/2018, Ông Hồ V A chỉ trả được tổng số tiền là 95.700.000đ, (trong đó, tiền nợ gốc là 63.526.441đ, lãi trong hạn: 32.173.559đ). Trong quá trình vay vốn, Ông Hồ V A đã không thực hiện đúng cam kết thanh toán nợ và lãi vay đúng hạn cho Ngân hàng TMCP H – PGD Hải Châu. Mặc dù Ngân hàng TMCP H – PGD Hải Châu đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở, tạo điều kiện cho thanh toán nợ vay nhưng Ông Hồ V A vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Do đó Ngân hàng TMCP H đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc Ông Hồ V A phải trả toàn bộ vốn và lãi cho Ngân hàng TMCP H tạm tính đến ngày 26/9/2022 với tổng số tiền là là 82.781.746đ, (trong đó nợ gốc là 56.473.559đ, lãi 6.199.774đ và lãi quá hạn là 20.108.413đ) và tiền lãi tiếp tục tính kể từ ngày 27/9/2022 theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về địa chỉ của bị đơn, theo 976/ CV-TĐ ngày 09/7/2022 của Trung Đoàn 282 thể hiện Ông Hồ V A đã chuyển về cư trú tại Phường Vạn An, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Do đó, để đảm bảo quyền lơị cho bị đơn đề nghị Tòa án tạm dừng phiên tòa để đến địa chỉ phường Vạn An, thành phố Bắc Ninh xác minh địa chỉ của bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đại diện viện kiểm sát quận Thanh Khê không phát biểu quan điểm về nội dung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: ngày 21/02/2022, Ngân hàng TMCP H khởi kiện vụ án Dân sự về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn Ông Hồ V A; Địa chỉ: 281 Trường Chinh, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, ngày 13/3/2022 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195, Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX tạm dừng phiên tòa để đến phường Vạn An, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xác minh địa chỉ của bị đơn Ông Hồ V A. HĐXX xét thấy, Căn cứ vào Giấy đăng kí vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ký ngày 13/06/2016, danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ đã được Ông A ký nhận nợ đợt vay số 0123958101T16076 ngày 28/6/2016 tại thời điểm vay và đơn xác nhận của Chỉ huy trưởng Trung đoàn 282 thể hiện Ông Hồ V A có nơi cư trú tại địa chỉ 281 đường C, phường A, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Tháng 11/2018, Ông Hồ V A ra quân, thay đổi địa chỉ mà không thông báo cho Ngân hàng TMCP H biết về địa chỉ mới của mình. Căn cứ vào Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 5, 6 Nghị quyết số 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì được coi là cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án tiên hành xét xử vụ án theo thủ tục chung không cần phải tạm dừng phiên tòa xác minh địa chỉ của bị đơn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. [3] Xét về nội dung: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng, ngày 13/06/2016 Ngân hàng TMCP H có cho Ông Hồ V A vay số tiền là 120.000.000đ. tính đến ngày 26/9/2022, Ông Hồ V A còn nợ tổng số tiền là 82.781.746đ, (trong đó nợ gốc là 56.473.559đ, lãi 6.199.774đ và lãi quá hạn là 20.108.413đ), do Ông A vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán khoảng nợ trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thể hiện: Theo thoả thuận tại Giấy đăng kí vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ký ngày 13/06/2016 và Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ đã được Ông A ký nhận nợ đợt vay số 0123958101T16076 ngày 28/6/2016, Ngân hàng TMCP H – PGD Hải Châu đồng ý cho Ông Hồ V A vay 120.000.000đ; thời hạn vay 48 tháng, (từ 28/06/2016 đến 28/06/2020), lãi suất vay là 8%/năm; Mục đích vay là để tiêu dùng. Xét thấy, trong quá trình thực hiện Hợp đồng tính đến ngày 28/6/2018, Ông Hồ V A trả được tổng số tiền là 95.700.000đ (trong đó, tiền gốc là 63.526.441đ, lãi là 32.173.559đ). Số tiền còn lại chưa thanh toán tính đến ngày 26/9/2022 với tổng số tiền là 82.781.746đ, (trong đó nợ gốc là 56.473.559đ, lãi 6.199.774đ và lãi quá hạn là 20.108.413đ). Do Ông A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên kể từ ngày 28/6/2018, Ngân hàng Đông Á đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc Ông Hồ V A phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi trên cho Ngân hàng TMCP H. [4] Về án phí: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội là 82.781.746đ*5% = 4.139.000đ Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H số tiền tạm ứng án phí 1.965.086đ đã nộp theo biên lai thu số: 0002597 ngày 23/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 468 và Điều 299 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử: Buộc Ông Hồ V A phải trả cho Ngân hàng TMCP H tổng số tiền là 82.781.746đ (tám mươi hai triệu bảy trăm tám mươi mốt ngàn bảy trăm bốn mươi sáu đồng, (trong đó nợ gốc là 56.473.559đ, lãi 6.199.774đ và lãi quá hạn là 20.108.413đ).

Kể từ ngày 27/9/2022 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí: Xử: Buộc Ông Hồ V A phải chịu 4.139.000đ (bốn triệu một trăm ba mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H số tiền tạm ứng án phí 1.965.068đ (một triệu chín trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm sáu mươi tám đồng) đã nộp theo biên lai thu số: 0002597 ngày 23/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ