vanban.org

Bản án 53/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588 và Điều 589 Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng các Điều 26, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Ng đối với bà Bùi Thị L về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm với số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Lê Văn Ng - Bùi Thị L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588 và Điều 589 Bộ luật dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 53/2022/DS-ST
Ngày: 07-7-2022
V/v: “Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại do tài sản bị xâm
phạm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sơn

2. Ông Lê Mộng Linh

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên toà: Bà Lê Ánh Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn Ng, sinh năm 1967;

Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1982;

Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án ông Lê Văn Ng trình bày:

Phần đất của ông thuộc thửa 228, tờ bản đồ 31 tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre giáp ranh với đất của bà Bùi Thị L, trên đất ông trồng chuối để phát triển kinh tế gia đình. Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 06/10/2021 ông có nói chuối của ông có nhảy qua đất của bà L thì bà cứ dọn nhưng bà L lại đốn thêm mấy cây chuối trên đất của ông gồm 06 cây chuối đang ra buồng, ước tính mỗi cây là 100.000 đồng x 6 = 600.000 đồng.

Nay, ông yêu cầu bà Bùi Thị L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông với số tiền là 600.000 đồng.

Theo văn bản trình bày ý kiến cũng như tại phiên tòa bà Bùi Thị L trình bày:

Vào chiều ngày 06/10/2021 bà có yêu cầu ông Ng chặt mấy cây chuối lấn qua đất bà nhưng ông Ng chỉ chặt 01 cây, còn lại các cây khác ông Ng không chặt, ông nói “tao không chặt mầy chặt đi” nên bà lấy dao ra chặt mấy cây còn lại lấn qua bên đất bà, khi bà chặt chuối có mặt ông Ng ở đó và chửi bà cùng với chị của bà, bà chỉ đốn 04 cây chuối lấn qua bên đất bà. Nếu xác định các cây chuối bà chặt thuộc về ranh đất ông Ng thì bà đồng ý bồi thường với mỗi cây là 100.000 đồng, do các cây chuối lấn qua bên đất bà cho nên bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre phát biểu:

+ Thẩm phán trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia phiên công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải nên chưa thực hiện đúng theo quy định.

+ Về việc giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, kết quả tranh luận, ý kiến Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1 Căn cứ vào đơn khởi kiện của ông Lê Văn Ng đối với chị Bùi Thị L thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

1.2 Bị đơn bà Bùi Thị L có nơi cư trú tại ấp G, xã A, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú thụ lý đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do tài sản xâm phạm với số tiền là 600.000 đồng nhưng bị đơn không đồng ý với lý do không thừa nhận hành vi chặt chuối gây thiệt hại bên phần đất của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo biên bản hòa giải ngày 24/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện Thành Phú như sau: Ông Lê Văn Ng cho rằng bà Bùi Thị L đốn 02 bụi chuối của ông có tổng cộng 06 cây đang ra buồng nên yêu cầu bà L phải bồi thường mỗi cây chuối là 100.000 đồng x 06 cây bằng 600.000 đồng. Bà L không đồng ý bồi thường cho ông Ng với lý do các cây chuối ông Ng trồng lấn qua phần đất của gia đình bà L, bà L có kêu ông Ng đốn nhưng ông Ng không đốn nên bà đốn các cây lấn qua phần đất của bà tổng cộng là 04 cây.

Sau khi hòa giải, Hội đồng hòa giải động viên hai bên thương lượng với nhau để giữ tình làng nghĩa xóm và phân tích người sử dụng đất chỉ được quyền trồng cây trong khuôn viên thuộc quyền sử dụng đất của mình, nếu rễ, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Tại phiên tòa các bên trình bày thì số lượng cây chuối bị chặt không phù hợp với nhau, bà L chỉ thừa nhận chặt có 04 cây chuối. Trong đó có 03 cây đang có buồng và 01 cây chưa ra buồng và chỉ chặt những cây lấn qua bên phần đất bà L, ông Ng cho rằng ông trồng chuối Xiêm và chuối hột gồm có 02 bụi, bà L chặt 01 bụi 04 cây và 01 bụi 02 cây đều đã có buồng bên phần đất của ông.

Quá trình giải quyết, Tòa án ra thông báo cho ông Ng nộp tạm ứng chi phí tố tụng để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc ranh đất giữa các bên tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ông Ng cho rằng tại thực địa đã có ranh đất nên không nộp tạm ứng chi phí tố tụng và đề nghị Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các bên đương sự, ông Ng không chứng minh được các cây chuối bà L chặt nằm trên phần đất của ông, số lượng các cây chuối bị chặt là 06 cây và giá trị của mỗi cây chuối là 100.000 đồng nên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Ng đối với bà Bùi Thị L là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Về án phí: Do yêu cầu không được chấp nhận nên ông Lê Văn Ng có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588 và Điều 589 Bộ luật dân sự 2015;

- Áp dụng các Điều 26, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Ng đối với bà Bùi Thị L về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm với số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Lê Văn Ng có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0004349 ngày 17/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre là đủ.

3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ