- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội cướp tài sản: Tuyên bố: Võ Tấn Thanh D, phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2021/HSST Ngày: 09/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Anh Thư
2. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Võ Tấn Thanh D, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 123 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn H1 và bà Nguyễn Thị Mỹ P; có vợ Phạm Thị Công N1; có một con, sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08 tháng 9 năm 2020 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có mặt)
Người bị hại:
- Công ty VTD; địa chỉ: 431 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z; người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm: 1995 và bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm: 1992 đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 25 tháng 12 năm 2020 và ngày 04 tháng 01 năm 2021). (vắng mặt)
- Công ty GĐ; địa chỉ: 543 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z; người đại diện hợp pháp: Bà Trương Thị Bích L2, sinh năm: 1997 và ông Nguyễn Bảo A, sinh năm: 1994 đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền số 95/2020/UQ-VFCVS ngày 05 tháng 9 năm 2020 và số 159/2020/UQ-VFCVS). (vắng mặt) Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm: 1995; chỗ ở hiện nay: 653 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z. (vắng mặt)
- Ông Phan Anh T1, sinh năm: 1992; chỗ ở hiện nay: 141 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z. (vắng mặt)
- Bà Trịnh Ngọc Quỳnh T2, sinh năm: 1995; chỗ ở hiện nay: 512 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z. (vắng mặt)
- Ông Trương Minh K, sinh năm: 1945; chỗ ở hiện nay: 621 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z. (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn N2, sinh năm: 1963; chỗ ở hiện nay: 872 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z. (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Hồng T3, sinh năm: 1965; chỗ ở hiện nay: 895 đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Z. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài, Võ Tấn Thanh D đã chuẩn bị một con dao có lưỡi bằng kim loại để trong một ba lô vải, rồi đi đến các cửa hàng tiện lợi để chiếm đoạt tài sản, cụ thể: Vụ thứ 1: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 03 tháng 9 năm 2020, D đi vào bên trong cửa hàng tiện lợi Circle K, số 15C Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh lấy 04 lon bia hiệu Heineken bỏ vào balo rồi đi ra, khi ra đến cửa thì bị ông Phan Anh T1 và bà Huỳnh Thị H2 là nhân viên cửa hàng phát hiện chặn lại, yêu cầu D thanh toán tiền. Lúc này, D dùng tay xô ông T1 rồi lấy con dao trong balo ra hướng lưỡi dao vào người ông T1 đe dọa. Do sợ nên ông T1 và bà H2 lùi lại, không chống trả thì D đi ra ngoài cửa hàng và trốn thoát. Sau đấy, D đem 04 lon bia hiệu Heineken về nhà và sử dụng hết. Sau khi xảy ra sự việc, ông T1 đến Công an phường Bến Nghé, Quận 1 trình báo sự việc. Vụ thứ 2: Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 04 tháng 9 năm 2020, D đi vào bên trong cửa hàng tiện lợi Circle K, số 32A Bùi Thị Xuân, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh lấy 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label cầm trên tay trái rồi đi ra khỏi cửa hàng thì bị bà Trịnh Ngọc Quỳnh T2 là nhân viên cửa hàng phát hiện, đuổi theo ra trước cửa hàng. Bà T2 yêu cầu D trả lại chai rượu nhưng D không đồng ý, lớn tiếng đe dọa bà T2 và bỏ chai rượu vào trong ba lô rồi tiếp tục bỏ đi. Bà T2 đuổi theo đến trước nhà số 34 Bùi Thị Xuân, phường Bến Thành, Quận 1 để yêu cầu D trả lại chai rượu thì D rút dao trong balo cầm trên tay, hướng lưỡi dao vào người bà T2 đe dọa. Lúc này ông Trương Minh K là bảo vệ cửa hàng chứng kiến sự việc đến hỗ trợ chị T2 lấy lại tài sản thì D dùng dao đe dọa nên bà T2 và ông K lùi lại, không chống trả thì D bỏ chạy thoát. Sau đấy, D đến cửa hàng tạp hóa CT, số 60H Nguyễn Thông, Phường 9, Quận 3 để bán chai rượu cho bà Trần Thị Hồng T3 là chủ cửa hàng tạp hóa với giá 330.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi xảy ra sự việc, bà T2 đã đến Công an phường Bến Thành, Quận 1 trình báo sự việc.
Qua truy xét, ngày 08 tháng 9 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 bắt giữ D. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, D còn khai nhận: Ngày 28 tháng 8 năm 2020, D đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label tại cửa hàng tiện lợi Family Mart, số 11C Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Nghé, Quận 1 rồi mang đến cửa hàng tạp hóa QH ở địa chỉ số 60L Nguyễn Thông, Phường 9, Quận 3 bán chai rượu cho ông Phạm Văn N2 là chủ cửa hàng với giá 300.000 đồng. Ngày 03 tháng 9 năm 2020, D đã trộm cắp 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label tại cửa hàng tiện lợi Family Mart, số 20 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1 rồi mang đến cửa hàng tạp hóa CT, số 60H Nguyễn Thông, Phường 9, Quận 3 để bán chai rượu cho bà Trần Thị Hồng T3 với giá 330.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. (Bút lục 125-141)
Theo bản kết luận định giá tài sản số: 308/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 11 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label 75 cl, 12 năm tuổi tại thời điểm ngày 28 tháng 8 năm 2020, trị giá 450.000 đồng; 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label 75 cl, 12 năm tuổi tại thời điểm ngày 03 tháng 9 năm 2020, trị giá 450.000 đồng; 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label 75 cl, 12 năm tuổi tại thời điểm ngày 04 tháng 9 năm 2020, trị giá 450.000 đồng; 04 lon bia Heineken, loại 330ml, trị giá 72.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 34/CT-VKSQ1 ngày 03 ngày 02 tháng 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Võ Tấn Thanh D về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo D đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo D đã phạm tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo D sử dụng dao khi thực hiện hành vi phạm tội là trường hợp sử dụng vũ khí nguy hiểm; phạm tội 02 lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần có mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo D từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù, miễn hình phạt tiền cho bị cáo D. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- 04 lon bia hiệu Heineken, loại 330ml, trị giá 72.000 đồng không thu hồi được, Công ty VTD yêu cầu bị cáo D bồi thường giá trị tài sản chiếm đoạt nên bị cáo D phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty VTD.
- 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label đã thu hồi trả lại cho Công ty VTD và không có yêu cầu nào nên không xét.
- 02 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label đã thu hồi trả lại cho Công ty GĐ và không có yêu cầu nào nên không xét.
- 04 vỏ lon bia hiệu Heineken; 01 con dao cán nhựa, màu vàng lưỡi bằng kim loại dài 15cm; 01 ba lô vải màu xám-đen-cam; 02 con dao cán gỗ màu nâu, lưỡi bằng kim loại dài 20 cm; 02 cây kéo cán nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 18 cm cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 áo thun màu xanh lá cây; 01 áo thun màu trắng; 01 áo thun màu cam; 01 quần dài loại Kaki màu nâu; 01 quần tây dài màu nâu; 01 đôi dép màu vàng-đen đều đã qua sử dụng cần tiêu hủy.
- Số tiền 330.000 đồng bị cáo D bán rượu có được đã tiêu xài hết. Bà T3 là người mua rượu không yêu cầu bị cáo D trả lại. Đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước. Tại phiên tòa, bị cáo D đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo D tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản làm việc, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất, biên bản bắt bị can để tạm giam,… nên có căn cứ để kết luận, khoảng 11 giờ 50 phút ngày 03 tháng 9 năm 2020, tại cửa hàng tiện lợi Circle K, số 15C Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo D đã có hành vi dùng dao uy hiếp, đe dọa ông T1 và bà H2 là nhân viên cửa hàng để chiếm đoạt 04 lon bia hiệu Heineken. Đồng thời, khoảng 8 giờ 00 phút ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại cửa hàng tiện lợi Circle K, số 32A Bùi Thị Xuân, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo D đã dùng dao đe dọa bà T2 và ông K là nhân viên cửa hàng để chiếm đoạt 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label. Qua truy xét, bị cáo D bị bắt giữ cùng vật chứng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo D đã phạm vào tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, bị cáo D đã sử dụng dao để phạm tội là sử dụng hung khí nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo D phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần cho bị cáo D hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo D có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo. [6] Đối với hành vi trộm cắp 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label tại cửa hàng tiện lợi Family Mart, số 11C Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Nghé, Quận 1 ngày 28 tháng 8 năm 2020 và trộm cắp 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label tại cửa hàng tiện lợi Family Mart, số 20 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1 ngày 03 tháng 9 năm 2020 của bị cáo D. Sau khi trộm được rượu, bị cáo D mang đến bán cho ông Phạm Văn N2 và bà Trần Thị Hồng T3 được 630.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trả lại cho Công ty GĐ. Theo bản kết luận định giá tài sản số: 308/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 11 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì 02 chai rượu trên có tổng giá trị là 900.000 đồng chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp đối với bị cáo D là có cơ sở. Quá trình điều tra, ông Phạm Văn N2 và bà Trần Thị Hồng T3 không yêu cầu nhận lại số tiền 630.000 đồng. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp thì dành cho các bên trong vụ án khác. [7] Đối với hành vi tiêu thụ rượu của bà Trần Thị Hồng T3 và ông Phạm Văn N2. Quá trình điều tra xác định bà T3 và ông N2 không biết rượu bị cáo D mang đến bán là do trộm cắp và cướp mà có nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của bà T3 và ông N2 là có cơ sở. [8] Đối với số tiền 330.000 đồng bị cáo D bán rượu có được đã tiêu xài hết. Quá trình điều tra bà T3 không yêu cầu bị cáo D trả lại số tiền này và không có yêu cầu nào khác. Xét, đây là tiền do bị cáo D phạm tội mà có nên buộc bị cáo D nộp lại số tiền này để tịch thu sung quỹ Nhà nước. [9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Đối với 04 lon bia hiệu Heineken, loại 330ml, trị giá 72.000 đồng không thu hồi được, Công ty VTD yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 72.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo D phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty VTD số tiền 72.000 đồng.
- Đối với 01 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label đã thu hồi trả lại cho Công ty VTD và Công ty VTD không có yêu cầu nào nên không xét. (Bút lục 30)
- Đối với 02 chai rượu hiệu Johnnie Walker Black Label đã thu hồi trả lại cho Công ty GĐ và Công ty GĐ không có yêu cầu nào nên không xét. (Bút lục 28, 29)
- Đối với 04 vỏ lon bia hiệu Heineken; 01 con dao cán nhựa, màu vàng lưỡi bằng kim loại dài 15cm; 01 ba lô vải màu xám-đen-cam; 02 con dao cán gỗ màu nâu, lưỡi bằng kim loại dài 20 cm; 02 cây kéo cán nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 18 cm cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 áo thun màu xanh lá cây; 01 áo thun màu trắng; 01 áo thun màu cam; 01 quần dài loại Kaki màu nâu; 01 quần tây dài màu nâu; 01 đôi dép màu vàng-đen. Bị cáo D không nhận lại và xét không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội cướp tài sản: Tuyên bố: Võ Tấn Thanh D, phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Võ Tấn Thanh D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 9 năm 2020.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, Buộc bị cáo Võ Tấn Thanh D bồi thường cho Công ty VTD số tiền 72.000đ (bảy mươi hai nghìn đồng). Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Buộc bị cáo Võ Tấn Thanh D nộp lại số tiền 330.000đ (ba trăm, ba mươi ba nghìn đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) vỏ lon bia hiệu Heineken; 01 (một) con dao cán nhựa, màu vàng lưỡi bằng kim loại dài 15cm; 01 (một) ba lô vải màu xám-đen-cam. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 13/21-PNK ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) con dao cán gỗ màu nâu, lưỡi bằng kim loại dài 20 cm; 02 (hai) cây kéo cán nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 18 cm. Tiêu hủy 01 (một) áo thun màu xanh lá cây; 01 (một) áo thun màu trắng; 01 (một) áo thun màu cam; 01 (một) quần dài loại Kaki màu nâu; 01 (một) quần tây dài màu nâu; 01 (một) đôi dép màu vàng-đen. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 04/21-PNK ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Võ Tấn Thanh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Võ Tấn Thanh D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Quận 1, TP. HCM; - Công an Quận 1, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Tuân |