- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kháng A D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kháng A D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 53/2021/HS-ST Ngày 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Uyên
Bà Giàng Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2021/TLST-HS ngày 10/9/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2021/QĐXXST-HS ngày 16/9/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Kháng A D (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1982 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản V, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: 2/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kháng Sáu Ch (sinh năm 1958) và bà Hờ Thị Gi (sinh năm 1960); có vợ là Hạng Thị Ch (sinh năm 1981) và có 01 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2021 đến ngày 24/6/2021, tạm giam từ ngày 24/6/2021 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lầu A V (Tên gọi khác: Lầu A P), sinh năm 1992, trú tại: Bản C, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 13/6/2021 Kháng A D một mình đi bộ từ nhà lên lán ruộng ở bản H, xã Ch, huyện M làm ruộng, đến khoảng 15 giờ ngày 20/6/2021 do lên cơn nghiện ma túy nên D đi bộ từ lán ruộng đến khu vực bản H, xã Ch, huyện M mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông lạ mặt 01 gói Heroine với giá tiền 150.000 đồng. Mua được Heroine D cất giấu trong túi quần bên trái và đi bộ về lán ruộng của D. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày 20/6/2021 có Lầu A V ở bản bản C, xã N, huyện M đến hỏi mua ma túy của D về để sử dụng, qua trao đổi D bán cho V 01 gói nhỏ với giá tiền 50.000 đồng, đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày 20/6/2021 khi D vừa đưa ma túy cho V xong thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang, thu giữ của D 01 gói Heroine và 50.000 đồng, thu giữ của Lầu A V 01 gói Heroine. Kháng A D khai nhận mục đích mua Heroine để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Lầu A V khai nhận mục đích mua Heroine về để sử dụng cho bản thân.
Kết luận giám định số 732/GĐ-PC09 ngày 30/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Kháng A Dế là Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Kháng A Dế là 0,70 gam.
Kết luận giám định số 733/GĐ-PC09 ngày 30/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lầu A V là Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Lầu A V là 0,08 gam.
Ngày 06/7/2021 Công an huyện Mường Nhé đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC đối với Lầu A V, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.
Cáo trạng số 42/CT-VKS-MN ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Kháng A D để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Kháng A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 2 tháng đến 02 năm 08 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,65 gam Heroine và tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 02 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai và ý kiến trong hồ sơ, xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Lời khai nhận về hành vi phạm tội bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Kháng A D khai: Ngày 20/6/2021 bị cáo mua được 01 gói Heroine của một người đàn bà dân tộc Mông lạ mặt tại khu vực bản H, xã Ch, huyện M với giá 150.000 đồng, mua với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Sau khi mua được Heroine bị cáo D bán cho Lầu A V 0,08 gam heroine với giá tiền 50.000 đồng, vừa tiến hành mua bán xong thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ tại nơi ở của bị cáo 0,70 gam Heroine. Như vậy tổng khối lượng ma túy mà bị cáo Kháng A D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là 0,70 gam Heroine + 0,08 ham Heroine = 0,78 gam Heroine. Vậy đã có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Kháng A D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 42/CT-VKS-MN ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án:
Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 02 năm 02 tháng tù đến 02 năm 08 tháng tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 02 tháng tù. Xét đề nghị của người bào chữa là thấp chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát để đảm bảo tính răn đe.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Đối với người đàn bà dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Lầu A V là người đã mua ma túy của bị cáo D, mua với mục đích để sử dụng, do khối lượng Lầu A V mua là 0,08 gam heroine, chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Lầu A V đã bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng theo quyết định xử phạt hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 06/7/2021 của Công an huyện Mường Nhé. Do vậy không xem xét xử lý Lầu A V trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,08 gam Heroine thu giữ của Lầu A V, cơ quan điều tra đã gửi đi giám định và không hoàn lại mẫu vật.
Đối với 0,70 gam Heroine thu giữ của bị cáo Kháng A D, cơ quan điều tra đã trích 0,05 gam Heroine đi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại là 0,65 gam Heroine sau khi đã trích giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo D, xét thấy đây là số tiền mà bị cáo D mua bán trái phép chất ma túy mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí:
Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó c ác hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Kháng A D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt bị cáo Kháng A D 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt bị tạm giữ ngày 21/6/2021.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu huỷ 0,65 gam Heroine (vật chứng của Kháng A D). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2021 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) (Thu giữ của bị cáo Kháng A D). Số tiền này hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.1072731.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung Dƣơng Thị Nhung |