vanban.org

Bản án 53/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm “Tội trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tiền 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày: 27-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tòng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Phạm Thị Em

2/ Ông Trịnh Hồng Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990; tại Bến Tre; Trú tại: Ấp A, xã B, huyện E, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Con ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị E. Bị cáo có vợ là Lê Thị Quyên P và có 01 con sinh năm 2013

- Tiền án:

Ngày 04/01/2018 bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Bến Tre xử phạt 11 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Ngày 22/4/2019 bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản.

- Tiền sự: Ngày 14/9/2020 bị Công an xã B, huyện E xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Nhân thân:

- Ngày 4/4/2007, bị Uỷ ban nhân dân xã B, huyện E quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi đánh người và trộm cắp tài sản.

- Ngày 19/3/2009 bị Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm 3 tháng tù giam về tội huỷ hoại tài sản.

- Ngày 01/6/2016 bị Công an huyện E xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Ngày 23/8/2016 bị Công an huyện E xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Ngày 30/3/2017 bị Uỷ ban nhân dân xã B, huyện E quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình.

Bị cáo bị tạm giam ngày 18/3/2021 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp E, xã F, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

+ Võ Thị Mỹ X, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp O, xã K, huyện E, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

+ Phan Thị Cẩm T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp E, xã F, huyện E, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Mai Thị Thu T3, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/3/2021, trên đường đi chơi về, Nguyễn Thanh T đi ngang khu vực thuộc thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre thì nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định trên, Nguyễn Thanh T đi bộ đến nhà của Võ Thị Mỹ X thấy cửa bên hông nhà khóa ngoài, cửa chính (loại cửa lá xách bằng gỗ) khóa chốt bên trong nên Nguyễn Thanh T đi đến cửa chính, dùng tay đẩy vào cửa tạo khoảng trống, rồi luồn tay vào trong mở chốt cửa đột nhập vào lấy trộm 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Acer aspire E1-570 màu đen, 01 ba lô màu đen, 01 áo khoác dù màu xanh, 01 áo khoác da màu nâu để trên giường trong phòng ngủ và 01 con heo đất bên trong có số tiền 300.000 đồng trên kệ phía trước rồi đi ra ngoài.

Sau khi lấy trộm tài sản xong, Nguyễn Thanh T đi bộ qua đường bê tông đối diện nhà chị Võ Thị Mỹ X một đoạn khoảng 300 mét, thì thấy có chiếc xe đạp điện của Nguyễn Văn T1 dựng bên lề đường, không người trông coi nên T đã đến lấy chiếc xe đạp điện chạy về nhà ở huyện G. Trên đường về đến khu vực cầu Bình Chánh thuộc huyện E thì xe đạp điện hết bình, T điện thoại nhờ Nguyễn Hoàng L (chạy xe ôm) phụ đẩy xe đạp điện về nhà. Sau khi đẩy xe đạp điện về đến nhà, Nguyễn Thanh T trả cho Nguyễn Hoàng L số tiền 100.000 đồng, rồi điện thoại cho bạn gái tên Phan Thị Cẩm T2 mang xe đạp điện và ba lô chứa tài sản đã lấy trộm đem vào nhà cất. Tiền lấy laptop cầm trên tay rồi tiếp tục nhờ L chở xuống thị trấn F, trên đường đi thì bị lực lượng Công an xã E, huyện F kiểm tra và mời Nguyễn Thanh T về làm việc.

Vật chứng tạm giữ: 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Acer aspire E1-570 màu đen; 02 áo khoác (01 áo khoác dù màu xanh, 01 áo khoác da màu nâu); 01 balo màu đen; 01 kéo cắt cành, 01 heo đất bị bể; 01 xe đạp điện nhãn hiệu Asama; số tiền 834.900 đồng; 01 tờ tiền 02 USD; 01 chai rượu vang nho nhãn hiệu Đalat BECO, 01 áo sơ mi màu xám xanh, 01 quần jean lửng màu xanh, 01 nón kết màu xanh đen.

Tại bản kết luận định giá trị tài sản của Hội đồng định giá huyện G xác định: 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Acer aspire E1-570 màu đen có giá trị 1.500.000 đồng; 02 áo khoác (01 áo khoác dù màu xanh có giá trị 50.000 đồng, 01 áo khoác da màu nâu có giá trị 50.000 đồng); 01 balo có giá trị 30.000 đồng; 01 heo đất bị bể có giá trị 0 đồng; Tổng giá trị tài sản định giá là 1.630.000 đồng và số tiền 300.000 đồng là 1.930.000 đồng; 01 xe đạp điện nhãn hiệu Asama có giá trị 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thanh T chiếm đoạt là 3.430.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho chị Võ Thị Mỹ X: 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Acer aspire E1-570 màu đen; 02 áo khoác; 01 balo; 01 kéo cắt cành; 01 con heo đất bị bể; số tiền 300.000 đồng; trả cho anh Nguyễn Văn T2 xe đạp điện nhãn hiệu Asama.

Cáo trạng số 60/CT-VKSCT ngày 27/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T tội “Trộm cắp tài sản” theo theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 02 đến 03 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Ghi nhận chị Võ Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản bị mất là 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Acer aspire E1-570 màu đen; 02 áo khoác; 01 balo; 01 kéo cắt cành; 01 con heo đất bị bể; số tiền 300.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.

+ Ghi nhận anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tài sản bị mất là xe đạp điện nhãn hiệu Asama và không có yêu cầu gì khác.

- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo T 01 áo sơ mi màu xám xanh, 01 quần jean lửng màu xanh, 01 nón kết màu xanh đen, số tiền 534.900 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD, 01 chai rượu vang nho 750 ml, nhãn hiệu Đalat BECO.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại về đặc điểm tài sản, vị trí, thời gian để tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do muốn có tiền tiêu xài nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/3/2021, tại thị trấn E, huyện G, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Thanh T đã lén lút mở chốt cửa đột nhập vào nhà chị Võ Thị Mỹ X lấy trộm 01 máy tính xách tay (laptop) nhãn hiệu Acer aspire E1-570 màu đen; 02 áo khoác màu xanh và màu nâu; 01 balo và 300.000 đồng bên trong con heo đất. Sau đó, Tiền tiếp tục đi qua đối diện nhà chị X lấy trộm 01 xe đạp điện nhãn hiệu Asama của anh Nguyễn Văn T1 đang dựng bên lề đường. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thanh T chiếm đoạt là 3.430.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản vào năm 2018 và tội cướp giật tài sản vào năm 2019 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp định khung là tái phạm nguy hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T tội “Trộm cắp tài sản” theo theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.

Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo nhiều lần bị chính quyền địa phương xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Xét tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: Phạm tội như gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có 01 con nhỏ chưa thành niên theo quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, bản tính xem thường pháp luật và nhân thân xấu của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với hành vi của Nguyễn Hoàng L có giúp bị cáo đẩy xe đạp điện và Phan Thị Cẩm T2 có cất giữ tài sản cho bị cáo đưa nhưng đều khai không biết tài sản do bị cáo Tiền chiếm đoạt của người khác mà có nên không xử lý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Văn T1 và chị Võ Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo sơ mi màu xám xanh, 01 quần jean lửng màu xanh, 01 nón kết màu xanh đen, số tiền 534.900 đồng, 01 tờ tiền 02 USD, 01 chai rượu vang nho 750 ml, nhãn hiệu Đalat BECO là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và bị cáo có yêu cầu nhận lại nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm “Tội trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tiền 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2021.

[2] Trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận Anh Nguyễn Văn T1 và chị Võ Thị Mỹ X đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.

[3] Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T: 01 áo sơ mi màu xám xanh, 01 quần jean lửng màu xanh, 01 nón kết màu xanh đen, số tiền 534.900 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD, 01 chai rượu vang nho 750 ml, nhãn hiệu Đalat BECO.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện G, tỉnh Bến Tre với Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre).

[4] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp án phí là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ