vanban.org

Bản án 53/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh P, cho bà Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên Thị Mộng T - Nguyễn Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 11 – 11 – 2021
V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quí

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoài Tâm

2. Ông Lý Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Trần Tấn Bửu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 506/2021/QĐXX-ST ngày 27 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm: 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Số 73/22/18 X, phường S, quận Y, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 28B/3 I, khu vực 6, phường O, quận O, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T trình bày: Qua quen biết, bà với ông Nguyễn Thanh P tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 55/2018 do Ủy ban nhân dân phường O, quận O, thành phố Cần Thơ cấp ngày 07/5/2018; giữa bà với ông Nguyễn Thanh P không có con chung. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện và yêu cầu:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P;

Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết;

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn nhưng do ông Nguyễn Thanh P thường xuyên vắng mặt tại địa phương; bà Nguyễn Thị Mộng T cũng không thường xuyên sinh sống tại địa phương nên không xác định rõ được nguyên nhân mâu thuẫn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T trình bày: Bà với ông Nguyễn Thanh P đã ly thân từ ngày 18/12/2020 cho đến nay nhưng không có khả năng hòa giải đoàn tụ nên bà vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của pháp luật; tuy nhiên, vụ án đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử nên kiến nghị khắc phục. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Nguyên đơn với bị đơn có đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2018 tại Ủy ban nhân dân phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Thời gian chung sống không hạnh phúc và đã sống ly thân từ ngày 18/12/2020 cho đến nay mà không có biện pháp hàn gắn. Xét thấy, nguyên tắc hôn nhân phải dựa trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, phải có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng giữa nguyên đơn với bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận; về con chung: Không có; về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T với bị đơn ông Nguyễn Thanh P có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; quá trình chung sống pháp sinh mâu thuẫn, bà T có đơn khởi kiện xin ly hôn được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh P vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T với bị đơn ông Nguyễn Thanh P tự nguyện tiến đến hôn nhân, được Ủy ban nhân dân phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 55/2018 ngày 07/5/2018. Theo trình bày của nguyên đơn thì bị đơn thường xuyên uống rượu bia bỏ bê gia đình nên phát sinh mâu thuẫn, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn tại địa phương thì không xác định được do nguyên đơn với bị đơn không thường xuyên sinh sống tại địa phương. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn vì vợ chồng sống ly thân từ ngày 18/12/2020 cho đến nay nhưng không có khả năng hòa giải đoàn tụ. Xét về hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện của các bên cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T với bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã phát sinh mâu thuẫn nhưng không có khả năng hòa giải đoàn tụ cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Thanh P như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về con chung: Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn thì giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T với bị đơn ông Nguyễn Thanh P không có con chung nên không yêu cầu giải quyết là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết là phù hợp.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T phải nộp án phí hôn nhận gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh P, cho bà Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 005001 ngày 08/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ