- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị T - Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN Bản án số: 53/2021/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 10 - 2021 |
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi
ly hôn giữa bà T và ông N.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Bé
Ông Đinh Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2021/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2021về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1990.
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
(Bà T có mặt, ông N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 3 năm 2021 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông N kết hôn năm 2011, đến năm 2016 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, hôn nhân do hai bên tự tìm hiểu. Trong thời gian sống chung cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên thường xuyên cải nhau, ông N thường xuyên đánh đập vợ con, không chăm lo cho gia đình. Hiện nay bà và ông N không còn sống chung với nhau. Bà thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà và ông N có ba người con chung tên Trần An T, sinh ngày 03/6/2012; Nguyễn Trần An V, sinh ngày 25/7/2016; Nguyễn Trần Phúc A, sinh ngày 30/11/2018.
Hiện nay ba người con chung đang sống với bà. Nếu được ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi ba con chung, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ông Nguyễn Văn N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Ông N cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An vào ngày 02/11/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian sống chung giữa bà T và ông N đã xảy ra nhiều mâu thuẩn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, ông N thường xuyên đánh đập vợ con, không chăm lo cho gia đình. Hiện nay bà T và ông N không còn sống chung với nhau. Ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không đến Tòa án, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà T yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[4] Về nuôi con chung: Bà T và ông N có ba con chung tên Trần An T, sinh ngày 03/6/2012; Nguyễn Trần An V, sinh ngày 25/7/2016; Nguyễn Trần Phúc A, sinh ngày 30/11/2018. Hội đồng xét xử thấy rằng ba con chung đang sống ổn định với bà T và nguyện vọng muốn sống với mẹ, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của ba con chung và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của ba con chung nên để bà T trực tiếp nuôi con chung là phù hợp, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn N.
2. Về nuôi con chung: Giao ba con chung tên Trần An T, sinh ngày 03/6/2012; Nguyễn Trần An V, sinh ngày 25/7/2016; Nguyễn Trần Phúc A, sinh ngày 30/11/2018 cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000946 ngày 07 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Long An; - VKS huyện Châu Thành; - THA huyện Châu Thành; - UBND xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |