vanban.org

Bản án 53/2021/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N.

Buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Trương Thị H bồi thường cho bà N 4.524.000 đồng (đã làm tròn). Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đối với số tiền 17.308.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/DS-ST
Ngày 05-4-2021
V/v tranh chấp bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Mẫn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Khanh.

2. Ông Lý Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021 và ngày 05 tháng 04 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2020/TLST-DS ngày 21/5/2020 về “tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị N (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã Tr, huyện T, thành phố C.

Bị đơn: Bà Trương Thị H (Vắng mặt); Ông Nguyễn Văn Th (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Tr, xã T, huyện T, thành phố C.

Người làm chứng: Bà Lê Kim Th (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Trường Phú B, xã Thới Tân, huyện Thới Lai, Tp. Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà N trình bày: Ngày 01/01/2020 bà bị ông Th, bà H gây thương tích dẫn đến phải nằm Bệnh viện điều trị, trong lúc ẩu đả bà bị mất sợ dây chuyền 2.3 chỉ vàng 18K. Sau khi bà tố giác thì được Công an huyện Thới Lai ban hành Thông báo số 12 ngày 31/3/2020 thông báo không khởi tố vụ án hình sự vụ án. Bà yêu cầu ông Th, bà H bồi thường 23.581.695 đồng và 2.3 chỉ vàng 18K. Cụ thể qua các lần làm việc, kiểm tra, đối chiếu chứng từ thể hiện bà N yêu cầu bồi thường số tiền như sau:

Tiền thuốc theo toa: Khám, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Lai từ ngày 01/01/2020 đến 06/01/2020 là 1.405.581 đồng; Ngày 06/01/2020 Trung tâm chuyển viện (theo yêu cầu của bà) đến Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ khám, điều trị 1.185.194 đồng; Ngày 14/01/2020 bà tự đi khám bệnh ở Bệnh viện Đa khoa quận Ô Môn 278.920 đồng. Các lần khám, điều trị tổng số tiền là 2.869.695 đồng.

Chi phí tàu xe: 02 chuyến (đi và về) x 200.000 đồng/chuyến = 400.000 đồng. Thuê xe của người tên Thanh ở gần nhà nhưng không biết tệ họ, địa chỉ cụ thể.

Chi phí cho ông T (chồng bà) nuôi bệnh trong 06 ngày: 200.000 đồng x 6 ngày = 1.200.000 đồng.

Mất thu nhập tiền lãi hằng ngày 300.000 đồng từ việc bán chuối chiên, nước đóng chai trong thời gian 30 ngày là 9.000.000 đồng.

Số tiền còn lại: 1.112.000 đồng không nhớ cụ thể nhưng đó là chi phí tiêu xài lặt vặt của bà.

Mất sợi dây chuyển 2.3 chỉ 18K, giá trị tính theo thời điểm trả vàng.

Bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong 30 ngày dưỡng thương là 9.000.000 đồng.

Ông Th, bà H trình bày: Thừa nhận có đánh gây thương tích cho bà N như trình bày, đồng ý bồi thường tiền thuốc và chi phí điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Lai 1.405.581 đồng và chi phí người nuôi bệnh 1.200.000 đồng. Các chi phí còn lại cũng như việc bồi thường giá trị 2.3 chỉ vàng 18K không hợp lý nên không đồng ý.

Người làm chứng bà Thiệt trình bày: Sự vụ đánh nhau xảy ra trước nhà bà nên có chứng kiến, can ngăn. Ông Th có đánh bà N hay không thì không biết, chỉ thấy bà H (vợ ông Th) với bà N có đánh nhau. Sau khi can ngăn thì bà H bỏ về, lúc đó bà vẫn thấy trên cổ bà N vẫn còn đeo sợi dây chuyền vàng, còn sự việc sau đó bị mất thì bà không biết. Sau đó, vào ngày 02/12/2020 bà Thiệt có Tờ tường trình với nội dung khi hay biết bà làm chứng cho sự việc mất sợi dây chuyền vàng theo Giấy triệu tập của Tòa án thì bà bị vợ chồng bà N, ông T dùng lời lẽ đe dọa, cảnh cáo nên tinh thần của bà bị ảnh hưởng, lo âu, không an tâm nên bà yêu cầu Tòa án không mời bà lên làm việc nữa, bà xin xét xử vắng mặt (Bút lục 45-46).

Diễn biến tại phiên tòa, bà N rút yêu cầu bồi thường đối với chi phí thuê xe đi khám bệnh và chi phí tiêu xài lặt vặt, các yêu cầu còn lại vẫn giữ nguyên. Ông Th chỉ đồng ý bồi thường chi phí người nuôi bệnh 1.200.000 đồng và chi phí khám, điều trị, tiền thuốc ở Trung tâm Y tế huyện Thới Lai và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Do bà tự đi khám tại Bệnh viện Đa khoa quận Ô Môn mà không có chỉ định của Bác sĩ nên không đồng ý chi phí này.

Bà N xác định số tiền 300.000 đồng là tiền lãi (tiền lời) từ việc bà bán chuối chiên, nước giải khát trong 01 ngày. Bà nằm Bệnh viện 06 ngày nhưng do còn yếu, Bác sĩ nói miệng bà cần phải nghỉ ngơi, hồi phục sức khỏe trong 01 tháng nên yêu cầu 01 tháng; Bà đã cung cấp cho Tòa án Biên nhận của Tiệm vàng lúc bà mua vàng để chứng minh bà có đeo vàng, lúc đánh nhau ông Th làm rớt và mất sợi dây chuyền vàng nên ông phải bồi thường. Về lời khai của bà Thiệt không khách quan do có mối quan hệ thân thiết với bên ông Th. Về chi phí bồi thường danh dự, nhân phẩm do bị chửi mắng, nói lời lẽ khó nghe nên làm mất danh dự của bà.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự: Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký tòa án cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68, Điều 93 đến Điều 97, 195, 196, và 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tuy nhiên vụ án quá thời hạn chuẩn bị xét xử, đề nghị khắc phục.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua đối chiếu chứng từ bà N cung cấp và lời khai tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận chi phí điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Lai và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Các chi phí như khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa quận Ô Môn, nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe trong thời gian 30 ngày do bà tự thực hiện không có chỉ định của Bác sĩ nên không có căn cứ chấp nhận chi phí này. Đối với thiệt hại mất thu nhập và tổn thất tinh thần bà không chứng minh được nên không được chấp nhận. Ghi nhận ông Th bồi thường chi phí điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Lai và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và tiền mất thu nhập người nuôi bệnh. Ghi nhận bà N tự nguyện rút một phần yêu cầu đối với chi phí thuê xe đi lại, tiền tiêu xài cá nhân lặt vặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà N, ông Th, bà H xảy ra đánh nhau, bà N bị thương tích phải điều trị và yêu cầu ông Th, bà H bồi thường chi phí điều trị nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm để giải quyết theo quy định tại Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bà H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo thừa nhận trong lúc ẩu đả (đánh nhau) ông Th, bà H có gây thương tích cho bà N dẫn đến hậu quả bà N phải nằm Bệnh viện điều trị. Lời thừa nhận này là chứng cứ, căn cứ xác định sức khỏe của bà N bị ông Th, bà H xâm phạm theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 590 của Bộ luật Dân sự 2015 nên ông bà phải có trách nhiệm bồi thường các chi phí thực tế, hợp lý cho bà N trong quá trình điều trị. Quá trình điều trị của bà N là 06 ngày (từ ngày 01/01/2020 đến 06/01/2020) tại Trung tâm Y tế huyện Thới Lai và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ (được Bác sĩ đồng ý cho chuyển tuyến) gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe được liệt kê tại các Bút lục số 15, 16, 19, 22, 23, 25, 26 là 2.639.885 đồng. Đối với thu nhập bị mất từ việc bán chuối chiên, nước giải khát như trình bày bà không có hóa đơn, chứng từ thể hiện. Việc bà cung cấp Đơn xin xác nhận thu nhập ngày 02/7/2020 để chứng minh mức thu nhập 300.000 đồng/ngày không phù hợp bởi những người làm chứng không trực tiếp cùng bà buôn bán xuyên suốt, không trực tiếp đếm tiền, cộng tiền lời, lãi từng ngày. Hơn nữa Công an xã T cũng chỉ xác nhận việc bà có đăng ký thường trú tại địa phương chứ không trực tiếp xác nhận nội dung lời khai, lời làm chứng của những người làm chứng liên quan đến mức thu nhập hằng ngày của bà nên mức bồi thường mất thu nhập bà yêu cầu không xác định được. Do tính chất công việc, thu nhập của bà không ổn định, không rõ ràng thuộc diện lao động tự do nên việc áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại được quy định tại Nghị định số 90/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019 tại huyện Thới Lai là 3.430.000 đồng/tháng. Như vậy, thu nhập trung bình 01 ngày của bà N là 114.000 đồng x 06 ngày = 684.000 đồng.

Các chi phí khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa quận Ô Môn 379.020 đồng và chi phí nghỉ ngơi, dưỡng thương hồi phục sức khỏe, mất thu nhập và tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong thời gian 01 tháng do bà tự thực hiện mà không có chỉ định của Bác sĩ. Theo kết quả của các lần chụp chiếu, kết luận của Bệnh viện, Bác sĩ cũng thể hiện các chức năng, bộ phận của cơ thể bà không bị mất hoặc giảm sút, tinh thần tỉnh táo, các mối quan hệ với hàng xóm láng giềng vẫn diễn ra bình thường nên yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần không có cơ sở xem xét. Riêng yêu cầu bồi thường 2.3 chỉ vàng 18K (Giá vàng ngày 05/4/2021 là 3.810.000 đồng/chỉ) Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bà Thiệt ngày 22/01/2020 tại Cơ quan Công an huyện T và tại Tòa án là nhất quán, phù hợp thể hiện sau khi sự việc đánh nhau được can ngăn thì sợi dây chuyền vẫn còn nên không có căn cứ cho rằng ông Th làm mất dây chuyền của bà, ông Th không có trách nhiệm bồi thường số vàng này.

Ghi nhận ông Th tự nguyện, đồng ý bồi thường chi phí điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Thới Lai và Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ 2.639.885 đồng và chi phí mất thu nhập của người nuôi bệnh 1.200.000 đồng. Ghi nhận bà N tự nguyện rút một phần yêu cầu đối với chi phí thuê xe và chi phí tiêu xài lặt vặt.

Về án phí: Qua những nhận định như trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà N có căn cứ chấp nhận một phần với tổng số tiền 4.524.000 đồng (đã làm tròn) nên ông Th, bà H phải chịu 5% án phí đối với số tiền này. Không có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của bà N đối với số tiền 17.308.000 đồng nên bà phải chịu 5% án phí đối với số tiền này theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Điều 590 của Bộ luật Dân sự 2015;

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N.

Buộc ông Nguyễn Văn Th và bà Trương Thị H bồi thường cho bà N 4.524.000 đồng (đã làm tròn).

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đối với số tiền 17.308.000 đồng.

Về án phí: Ông Th, bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà N phải chịu 865.000 đồng án phí đối với số tiền không được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ