vanban.org

Bản án 53/2021/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Công ty TNHH MTV P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Anh Lê Công M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH MTV P trả số tiền mua mì còn thiếu là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng,…"
  • Tòa quyết gì? Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/DS-ST
Ngày 21 - 9 - 2021
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Hoàng.

Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2021/TLST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Công M, sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp S, xã G, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV P; địa chỉ trụ sở: Cụm Công nghiệp N, ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Anh P1, chức vụ: Giám đốc.

Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1950; cư trú tại ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. (văn bản ủy quyền ngày 17/5/2021). Anh M, ông R vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2021 và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Lê Công M trình bày: Công ty TNHH MTV P mua củ mì tươi của anh nhiều lần từ năm 2016 đến nay. Trước đây hai bên đã thanh toán xong. Từ ngày 21/9/2020 đến 17/10/2020 anh đã bán củ mì tươi cho Công ty TNHH MTV P tổng số tiền mì là: 902.059.000 đồng theo số phiếu cân mì đã cung cấp. Sau đó, Công ty TNHH MTV P đã trả cho anh được 302.059.000 đồng, cụ thể:

- Ngày 14/11/2020 Công ty đã trả cho anh số tiền 102.059.000 đồng.

- Ngày 03/12/2020 Công ty đã trả cho anh số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 18/12/2020 Công ty đã trả cho anh số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 14/01/2021 Công ty đã trả cho anh số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 11/02/2021 Công ty đã trả cho anh số tiền 50.000.000 đồng. Công ty TNHH MTV P còn nợ lại anh số tiền là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng. Anh đã nhiều lần yêu cầu công ty thanh toán cho anh nhưng công ty hứa hẹn hết lần này đến lần khác vẫn không trả cho anh. Nay anh yêu cầu Công ty TNHH MTV P có trách nhiệm trả lại số tiền mua mì còn thiếu là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi. Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn R trình bày: Năm 2020, Công ty TNHH MTV P có mua củ mì tươi của anh Lê Công M với tổng số tiền 902.059.000 đồng. Sau đó, Công ty TNHH MTV P đã trả cho anh M được 302.059.000 đồng, cụ thể:

- Ngày 14/11/2020 Công ty đã trả cho anh M số tiền 102.059.000 đồng.

- Ngày 03/12/2020 Công ty đã trả cho anh M số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 18/12/2020 Công ty đã trả cho anh M số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 14/01/2021 Công ty đã trả cho anh M số tiền 50.000.000 đồng.

- Ngày 11/02/2021 Công ty đã trả cho anh M số tiền 50.000.000 đồng.

Công ty TNHH MTV P còn nợ lại anh M số tiền là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.

Công ty TNHH MTV P đồng ý trả lại số tiền mua mì còn thiếu là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, đồng ý việc anh M không yêu cầu tính lãi nhưng do hoàn cảnh công ty khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trình bày:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự, không có vi phạm. Đương sự trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, buộc Công ty TNHH MTV P trả cho anh Lê Công M số tiền gốc là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, ghi nhận anh M không yêu cầu tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Công M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH MTV P trả số tiền mua mì còn thiếu là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi; bị đơn có trụ sở tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh chấp hợp đồng mua bán và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Công M là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn R là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt, theo khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào phiếu cân mì (bút lục 58 đến 127) và lời trình bày của anh M, ông R thấy rằng: anh M đã bán củ mì tươi cho Công ty TNHH MTV P nhiều lần; từ ngày 21/9/2020 đến 17/10/2020, anh M đã bán củ mì tươi cho Công ty TNHH MTV P với tổng số tiền là: 902.059.000 đồng. Công ty TNHH MTV P đã trả cho anh M số tiền là 302.059.000 đồng. Anh M và ông R thống nhất việc Công ty TNHH MTV P còn nợ anh M số tiền mua mì là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi. Do đó, căn cứ Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh M về số tiền nợ gốc là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, ghi nhận anh M không yêu cầu tính lãi. [4] Về yêu cầu trả dần của bị đơn: Bị đơn yêu cầu được trả dần mỗi tháng mỗi tháng 10.000.000 (mười triệu) đồng do hoàn cảnh công ty khó khăn. Xét thấy, yêu cầu trả dần của bị đơn không được nguyên đơn chấp nhận và không phù hợp Điều 440 Bộ luật Dân sự nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu trả dần của bị đơn. [5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng + (600.000.000 đồng - 400.000.000 đồng) x 4% = 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 430, Điều 440, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Công M đối với Công ty TNHH MTV P. Buộc Công ty TNHH MTV P có nghĩa vụ trả cho anh Lê Công M số tiền gốc là 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng. Ghi nhận anh Lê Công M không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

Công ty TNHH MTV P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng.

Anh Lê Công M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 16.814.500 (mười sáu triệu tám trăm mười bốn nghìn năm trăm) đồng theo biên lai thu số 0007343 ngày 20/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ