- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận yêu cầu hởi iện của cụ Đinh Thị Đ (tên gọi khác Bùi Thị Ô) về việc đòi lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên có diện tích 120m2 và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đ nh ng Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 105 Luật Đất đai
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2021/DS-PT Ngày: 03-8-2021 V/v: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vũ Thị Mai Hương
Các thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên toà:
Ông Bùi Ngọc Quỳnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên
Trong các ngày 07/7/2021 và ngày 03 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định t ử phúc thẩm c ng hai vụ án dân sự thụ lý số 53/2020/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do ản án dân sự sơ thẩm số 18/2020/TCDS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định ị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số 86/2021/QĐ-PT ngày 08/6/2021 gi a các đương sự:
+ Nguyên đơn: Cụ Đinh Thị Đ (tên gọi hác Bùi Thị Ô) - Sinh năm 1935
Nơi cư trú: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N
- Người đại diện theo ủy quyền của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô): Bà Bùi Thị C, sinh năm 1962 (là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án)
+ Bị đơn: Ông Phạm Văn T - Sinh năm 1961
Nơi cư trú: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Bùi Thị Đ1, sinh năm 1951; địa chỉ: Thôn C - xã H - huyện S - tỉnh T;
2. Bà Bùi Thị V, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn C - xã H - huyện S - tỉnh T;
3. Ông Bùi Văn G, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N.
4. Ông Bùi Văn Đ2, sinh năm 1960; địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N;
5. Bà Bùi Thị C, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N;
6. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N;
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1, bà V, ông G, ông Đ2: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1962 (cùng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án)
- Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1961 (là ị đơn trong cùng vụ án)
7. Uỷ an nhân dân huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định
- Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND huyện Xuân Trường;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn T1 - Chuyên viên Phòng Tài nguyên, m i trường huyện Xuân Trường.
+ Người làm chứng:
1. Ông Ngô Phi H, sinh năm 1953, địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N;
2. Ông Bùi Quang V1, sinh năm 1947; địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N;
3. Ông Phạm Thanh B, sinh năm 1933; địa chỉ: Xóm 12B - xã X - huyện X - tỉnh N;
4. Ông Ngô Trung L, sinh năm 1955; địa chỉ: Xóm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N.
+ Người kháng cáo: Nguyên đơn cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn hởi iện và quá tr nh tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn trình bày: Vợ chồng cụ có 1 miếng đất ao diện tích 147m2 được nhà nước giao. Năm 1984, ng Phạm Văn T là cháu họ có hỏi mượn diện tích đất trên để mở quán bán hàng, vì chưa có nhu cầu sử dụng nên cụ đã đồng ý cho ng T mượn. Lợi dụng cụ đã già yếu, chồng mất sớm nên ông T đã tự viết đơn đề nghị in nhượng đất mang tên cụ với nội dung cụ án cho ng T diện tích 147m2 mà cụ cho ông T mượn với giá 5.000 đồng (năm ngh n đồng) rồi giả mạo ch ý của cụ và con trai cụ là Bùi Văn Đ2 vào giấy tờ đó. Sau đó ng T đã đưa giấy này cho ng Trịnh Viết T2 là người làm chứng ý ( ng T2 đã chết); trong giấy này còn có ác nhận của Ban quản lý ruộng đất, Đội trưởng đội 01 vào ngày 20/01/1984 và chứng thực của Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên ngày 30/01/1984. Tất cả nh ng ch ý và chứng thực của Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên đều không có giá trị v đã vi phạm nh ng quy định của pháp luật v h ng có mặt của người chuyển nhượng đất. Cụ đề nghị Tòa án xem xét và yêu cầu ng T phải trả lại diện tích đất đã cho ng T mượn và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ng T.
+ Tại bản tự hai và quá tr nh tố tụng tại Tòa án, à Bùi Thị C - là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô), à Bùi Thị Đ1, à Bùi Thị V, ông Bùi Văn G, ng Bùi Văn Đ2, trình bày: Bố mẹ à là cụ Bùi Văn Ô (đã chết năm 1973) và Đinh Thị Đ có 06 người con là à Bùi Thị Đ1, bà Bùi Thị V, ông Bùi Văn G, à Bùi Thị C, ng Bùi Văn Đ2 và à Bùi Thị Chiến (đã chết năm 2002, h ng có chồng con). Trước hi ố à chết th ố mẹ à có diện tích đất gồm 03 thửa liền nhau ở óm 8 - xã X - huyện X - tỉnh N, hiện nay gồm: Thửa đất số 76, tờ ản đồ số 01, diện tích 116m2 đứng tên mẹ à là Bùi Thị Ô mà mẹ à và gia đ nh à đang ở; thửa đất số 75, tờ ản đồ số 01, diện tích 100m2 hộ ng Ng Trung L đang sử dụng, ở ên cạnh thửa đất cụ Ô, thửa này do mẹ à án cho ông L vào năm 1988; thửa đất số 74, tờ ản đồ số 01, diện tích 120m2 hiện nay hộ ng T đang sử dụng; tổng diện tích 03 thửa là 336m2. Ngoài diện tích đất nói trên th ố mẹ à h ng còn diện tích đất nào hác. Năm 1984, ng T có hỏi mượn diện tích đất ao trên để mở quán án hàng th cụ Đ đã đồng ý. Lợi dụng cụ Đ già yếu, chồng lại mất sớm nên ng T đã tự viết đơn đề nghị in nhượng đất với nội dung cụ Bùi Thị Ô (tức Đinh Thị Đ) nhượng lại cho ng T diện tích đất mà ông T đã mượn với giá 5.000đ (năm ngh n đồng) rồi giả mạo ch ý của cụ Đ và ng Bùi Văn Đ2 (con trai cụ Đ) ý vào đơn chuyển nhượng đó; sau đó còn đưa cho ng Trịnh Viết T2 (đã chết) là người làm chứng ý vào rồi đi in ác nhận của cơ sở óm, chính quyền địa phương. Bà C cho rằng đơn đề nghị in chuyển nhượng đất trên h ng có giá trị pháp lý v cụ Đ h ng iết ch h ng thể ý vào đơn được, anh chị em à cũng h ng ai iết g . Trước đây phía nguyên đơn có yêu cầu giám Đ1 ch ý của cụ Bùi Thị Ô và ng Bùi Văn Đ2 nhưng nay h ng yêu cầu n a v h ng có mẫu ch của cụ Ô để so sánh và h ng có inh phí để đi giám Đ1. Khi ông T ây dựng nhà qua các thời ỳ th cụ Đ, anh chị em à đều iết nhưng cụ Đ chưa đòi. Nay cụ Đ yêu cầu gia đ nh ng T tháo dỡ tất cả các c ng tr nh đã ây dựng để trả lại phần diện tích đất đã mượn trước đây và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đ nh ng T.
Tại ản tự hai và quá tr nh tố tụng tại tòa án, ng Phạm Văn T là ị đơn trong vụ án, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của à Vũ Thị N, trình bày: Đầu năm 1984, cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) có án cho ng 01 cái ao diện tích hoảng 147m2 với giá 5.000đ (năm ngh n đồng), hai ên có viết giấy đề nghị in chuyển nhượng đất. Ông và cụ Ô đã mang đơn chuyển nhượng đất đã có ch ý của cụ Ô, ông Đ2 (con trai cụ Ô) và của ng cùng đi vào nhờ nguyên đội trưởng là ng Bùi Quang V ác nhận. Sau đó có người chứng iến là ng Trịnh Viết T2 ý vào đơn đề nghị chuyển nhượng rồi ng đến Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên ác nhận. Trên cơ sở đó, Trưởng an quản lý ruộng đất thời đó là ng Phạm Thanh B đã lên đo đạc đất theo nội dung đơn chuyển nhượng; tại uổi đo đạc đó có sự chứng iến của hai ên ngõ (nh ng người chứng iến đều đã chết), cụ Ô, con trai và con gái cụ Ô ra chỉ mốc giới. Ông đã thanh toán đầy đủ tiền chuyển nhượng cho cụ Ô và nộp tiền trước ạ mua đất đầy đủ rồi tiến hành lấp ao, cải tạo và ây dựng 01 căn nhà tre. Năm 1986 vợ chồng ng có ây móng và tường cao ngang tầm với ( hoảng 2m), gia đ nh cụ Ô không ai có ý iến g . Do điều iện inh tế hó hăn nên đến năm 1987 ng cùng vợ con đi miền Nam làm ăn. Đến năm 1990 ng về th được iết cụ Ô tiếp tục án 01 phần đất giáp nhà ng cho ng Ng Trung L, sau đó ng ây nhà cấp 4 để ở, gia đ nh cụ Ô cũng h ng ai có ý iến g . Đến năm 2001 th gia đ nh ng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng th h ng có tranh chấp g . Gia đ nh ng ở ng i nhà cấp 4 đến năm 2012 th phá dỡ đi để ây dựng nhà mái ằng 3 tầng iên cố như hiện nay, gia đ nh cụ Ô cũng h ng ai có ý iến g . Khi gia đ nh ng tổ chức mừng nhà mới vào cuối năm 2012, cụ Ô và các con cũng sang mừng tiền cho vợ chồng ng nhưng v cụ Ô đã già nên h ng lấy tiền, chỉ lấy tiền mừng của ng G và ông Đ2 đều là con cụ Ô; về sổ ghi tiền mừng ng đã cung cấp cho Tòa án. Nay cụ Ô đòi lại diện tích đất 147m2 đã chuyển nhượng cho ng th ng h ng nhất trí. V việc mua án gi a hai ên đã có giấy tờ và được chính quyền địa phương ác nhận; mặt hác, từ hoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 1990, cụ Ô cũng có chuyển nhượng đất cho ng L, vậy tại sao không bán cho ông L phần đất nhà ng đang tranh chấp v đất hộ ng L đang sử dụng có vị trí ở gi a đất nhà ng và nhà cụ Ô như hiện nay. Về nội dung giám Đ1 ch ý của cụ Ô, ông Đ2 th ng h ng đề nghị giám Đ1 v h ng có mẫu ch ý của cụ Ô.
Nh ng người làm chứng trong vụ án:
- Ông Phạm Thanh B trình bày: Ông là Trưởng an quản lý ruộng đất ã Xuân Kiên từ năm 1962 đến năm 1987. Trong quá tr nh c ng tác tại ã, năm 1984 ng có nhận được đơn đề nghị in nhượng đất gi a à Bùi Thị Ô và ng Phạm Văn T do chủ tịch Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên lúc ấy giờ là ng Bùi C ng Thẩm chuyển cho ng. Khi nhận được đơn th trong đơn đã có ch ý cuả cụ Bùi Thị Ô, ng Bùi Văn Đ2 và ng Phạm Văn T, người làm chứng, ác nhận của Đội trưởng đội sản uất số 01 và chứng nhận của Chủ tịch Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên. Sau hi đọc đơn, ng đã uống vị trí đất chuyển nhượng để thẩm định lại số liệu diện tích đất và các cạnh của thửa đất. Khi uống địa àn có đất chuyển nhượng, ng đã mời ng Đội trưởng đội sản uất là ng Bùi Quang V đến chứng iến sự việc; đồng thời mời cụ Ô, ông T, 01 con trai và 01 con gái của cụ Ô, cùng các chủ sử dụng đất liền ề để chứng iến việc hảo sát, đo đạc diện tích đất cụ Ô chuyển nhượng cho ng T theo như đơn chuyển nhượng. Khi đo đạc th cụ Ô, ông T và các hộ liền ề lúc ấy giờ là ông B, ông S, đại diện họ Trịnh là ng N đều đã nhận mốc giới rõ ràng. Sau hi thẩm định ong, đúng với nội dung chuyển nhượng trong đơn th ng mới ý ác nhận vào đơn đề nghị chuyển nhượng đất và đề nghị chính quyền thu trước ạ. Ông là người ý cuối cùng trong đơn đề nghị chuyển nhượng đất gi a cụ Ô và ông T. Khi ông T nộp ong trước ạ, có chứng từ th ng mới trực tiếp giao lại đơn đề nghị in nhượng đất cho ng T. Ông hẳng định việc nhượng đất từ cụ Ô sang cho ông T đã diễn ra đúng như thực tế ng đã tr nh ày.
- Ông Bùi Quang V trình bày: Ông là Đội trưởng đội sản uất số 01 ã Xuân Kiên giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1988. Đầu năm 1984, vào một uổi sáng sớm, hi ng đang ở nhà th có cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ng Phạm Văn T cùng đến nhà ng để nhờ ng chứng thực nội dung nhượng đất từ cụ Ô sang cho ông T. Khi đến th hai người có mang theo 01 đơn đề nghị in nhượng đất đã có ch ý của cụ Ô, ông Đ2 (con trai bà Ô), ông T, ngoài ra chưa có ch ý nào hác. Sau hi đọc đơn, ng thấy nội dung đơn phù hợp với nguyện vọng của cả cụ Ô và ông T nên đã chứng thực với nội dung như đã ác nhận trong đơn mà các ên đã cung cấp cho Tòa án và ý tên vào đó. Ông hẳng định hi ng ý ác nhận vào đơn đề nghị in nhượng đất th có mặt cụ Ô và ông T.
- Ông Ngô Phi H trình bày: Ông c ng tác tại cơ sở óm từ nh ng năm 1973 đến nh ng năm 1983. Thời điểm cụ Bùi Thị Ô (tức Đinh Thị Đ) án đất cho ng Phạm Văn T th ng h ng phải là đội trưởng nhưng ng iết rõ việc này. Chính ng là người hướng dẫn cho ng T viết đơn đề nghị in nhượng đất, ng T chỉ là người ch p lại nội dung; còn việc các ên ý ết thế nào th ng h ng được chứng iến. Khi các ên giao đất th ng cũng có mặt ở đó; ng nhớ tại uổi giao đất th có ng B là Trưởng an quản lý ruộng đất thời đó, có ng T2 là hàng xóm (đã chết), có mặt cụ Ô, các con cụ Ô và ông T. Ông hẳng định việc chuyển nhượng đất từ cụ Ô sang cho ông T chắc chắn diễn ra trên thực tế. Ông h ng chứng iến việc ý ết gi a các ên nhưng ng iết việc cụ Ô và ông T cùng vào nhà ông V là đội trưởng để in ác nhận, v hi sau hi ác nhận ong th ng T có qua nhà ng chơi và ể lại sự việc này, h m đấy là uổi sáng nhưng h ng nhớ là mấy giờ.
- Ông Ngô Trung L trình bày: Thửa đất hiện nay gia đ nh ng đang sử dụng là ông mua của cụ Bùi Thị Ô (tức Đinh Thị Đ) từ năm 1988. Khi ng về ở óm 8, ã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường từ năm 1990 th ng cũng có nghe người dân ung quanh nói về việc cụ Ô chuyển nhượng đất cho ng T trước hi án cho ông để lấy tiền ây nhà v điều iện inh tế hó hăn; đến năm 1986 nhà cụ Ô ị đổ nên năm 1988 cụ án tiếp cho ng 100m2 đất cạnh thửa đất ng T hiện nay để lấy tiền làm lại nhà. Khi cụ Ô chuyển nhượng đất cho ng th à Bùi Thị C (con gái cụ) là người viết giấy chuyển nhượng và tự viết người chuyển nhượng là Bùi Thị Ô ở cuối đơn chứ cụ Ô h ng viết g cả, mặc dù cụ Ô có mặt tại thời điểm đó. Căn cứ vào giấy chuyển nhượng này, ngày 15/3/2001 cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đ nh ng. Việc cụ Ô ý ết chuyển nhượng đất cho ng T th ng h ng được chứng iến nên h ng iết cụ Ô có ý được hay h ng v thời điểm năm 1984 ng chưa ở óm 8, ã Xuân Kiên; chỉ iết hiện nay, thi thoảng ng vẫn thấy cụ Ô có đọc sách inh. Theo ng, việc chuyển nhượng đất gi a cụ Ô và ông T là có diễn ra trên thực tế v ng thấy gia đ nh ng T sử dụng đất ổn định, lâu dài từ hi ng về đây ở đến nay, h ng ảy ra tranh chấp g ; mặt hác, ng cũng nghe người dân nói nhiều về việc chuyển nhượng này.
Kết quả đo đạc, em t, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Phần đất tranh chấp được ác định là thửa đất số 74, tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên với diện tích đo đạc thực tế 120m2 mang tên chủ sử dụng là hộ ng Phạm Văn T. Trên diện tích đất tranh chấp có 01 nhà 3 tầng iên cố, 01 ng i nhà 1 tầng lợp mái t n và sân gạch trước nhà. Giá đất ở tại vị trí tranh chấp theo giá thị trường tại địa phương là 12.500.000đ/m2; theo giá Ủy an an nhân dân tỉnh Nam định tại Quyết định số 46 ngày 31/12/2019 là 3.500.000đ/m2; giá trị các tài sản trên đất còn lại là 851.073.000đ (tám trăm năm mươi mốt triệu, h ng trăm ảy mươi a ngh n đồng).
+ Ý iến của Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên: Thửa đất hộ ng Phạm Văn T và hộ ng Ng Trung L hiện nay đang sử dụng trước đây đều là đất thuộc quyền sử dụng của gia đ nh cụ Đ. Khoảng năm 1984, do inh tế hó hăn nên cụ Đ có án lại cho ng T một phần, sau đó án tiếp cho ng L một phần như hiện nay. Việc cụ Đ án đất cho ng T có nhiều người iết việc này. Phần đất ng T mua của cụ Đ trước đây là cái ao, sau đó ng T vượt lập thành đất ở. Sau hi mua đất của cụ Đ, ông T ây dựng nhà tạm để làm may, rồi cho người hác thuê để làm nghề sửa ch a e máy, còn ng T vào miền Nam làm việc. Sau hi về quê, ông T sửa lại nhà để ở cùng vợ con. Đến năm 2012, ng T đập nhà cũ đi xây nhà ba tầng iên cố như hiện nay. Hộ ng Phạm Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S357027 ngày 15/3/2001 là thửa số 74, tờ ản đồ số 01 có diện tích 120m2 (đều là đất ở) tại óm 8, ã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Đ1. Theo hồ sơ địa chính ã Xuân Kiên th hộ ng Phạm Văn T đã đứng tên sử dụng thửa đất trên từ năm 1987 đến nay. Trong suốt quá tr nh sử dụng thửa đất, gia đ nh ng T nhiều lần ây dựng các c ng tr nh trên đất th gi a gia đ nh ng T và cụ Đ cũng như các hộ liền ề h ng thấy có tranh chấp g . Địa phương h ng nhận đơn từ g của cụ Đ về việc đòi lại đất đã chuyển nhượng cho ng T. Từ trước đến nay, ng T đã nộp thuế đất đầy đủ cho nhà nước. Cho đến hoảng gi a năm 2019 th gi a gia đ nh cụ Đ và gia đ nh ng T ắt đầu có nh ng mâu thuẫn trong cuộc sống, sau đó dẫn đến việc à Đ sang đòi đất nhà ng T, v cụ Đ cho rằng trước đây chỉ cho ng T mượn đất để án hàng. Khi mâu thuẫn ảy ra, cơ sở óm và Ủy an nhân dân ã đã đến gia đ nh hai hộ để hòa giải nhưng h ng có ết quả. Sau đó, cụ Đ có đơn đề nghị Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên giải quyết yêu cầu gia đ nh ng T trả lại đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ng T. Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên đã mời các ên lên trụ sở để làm việc, hòa giải nhưng h ng thành nên đã gửi hồ sở lên Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường để giải quyết theo thẩm quyền. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án để gi g n t nh cảm v hai gia đ nh cũng còn có quan hệ họ hàng. Nếu h ng được đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy Đ1 của pháp luật để giải quyết.
+ Việc thu thập tài liệu, chứng cứ tại Chi nhánh văn phòng đăng ý đất đại huyện Xuân Trường, Phòng Tài nguyên và M i trường huyện Xuân thể hiện: Năm 2000, Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên có ý hợp đồng với Trung tâm c ng nghệ địa chính tỉnh Nam Đ1 để lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận đợt đại trà. Trên cơ sở đề nghị của Ủy an nhân dân ã Xuân Kiên, ngày 15/3/2001 Ủy an nhân dân huyện Xuân Trường đã an hành Quyết Đ1 số 182/2001/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 618 hộ dân trên địa àn ã Xuân Kiên, trong đó có hộ ng Phạm Văn T. Việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ng Phạm Văn T năm 2001 là theo quy định của Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi, ổ sung năm 1998) và căn cứ vào hồ sơ địa chính của ã Xuân Kiên qua các thời ỳ ( ản đồ địa chính, sổ mục ê, sổ địa chính) là có cơ sở.
Từ nội dung vụ án như trên, tại ản án dân sự sơ thẩm số 18/2020/TCDS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Đ1, đã quyết định:
Căn cứ vào hoản 2 Điều 2 Luật đất đai năm 1993; các Điều 105, 106, 107 Luật đất đai năm 2003; hoản 5 Điều 26, Điều 100, 167, 168, hoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; các Điều 690, 691, 692, 693, 696, 705, 707, 708 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 223, 500, 501, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; hoản 9 Điều 26, hoản 1 Điều 35, Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm .1, tiểu mục 2.2, mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an Thường vụ Quốc hội.
1. Kh ng chấp nhận yêu cầu hởi iện của cụ Đinh Thị Đ (tên gọi khác Bùi Thị Ô) đối với ng Phạm Văn T về việc đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ng Phạm Văn T.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Đinh Thị Đ (tên gọi khác Bùi Thị Ô).
- Về chi phí tố tụng: Cụ Đinh Thị Đ (tên gọi khác Bùi Thị Ô) phải chịu tiền chi phí tố tụng gồm chi phí em t thẩm định và định giá tài sản là 3.000.000đ ( a triệu đồng) được hấu trừ số tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp 3.000.000đ ( a triệu đồng). Xác nhận cụ Đinh Thị Đ (tên gọi khác Bùi Thị Ô) đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn tuyên quyền háng cáo của các đương sự.
Ngày 06/7/2020, nguyên đơn cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) có đơn háng cáo với nội dung: Kh ng nhất trí với quyết Đ1 của ản án sơ thẩm, háng cáo toàn ộ ản sơ thẩm, đề nghị Hội đồng t ử phúc thẩm t ử lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn gi nguyên nội dung háng cáo và yêu cầu hởi iện; các đương sự h ng thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà Bùi Thị C - người đại diện ủy quyền của nguyên đơn tr nh ày yêu cầu háng cáo: Mẹ t i cho ng Phạm Văn T thuê đất, ng T đã lợi dụng mẹ t i già yếu và em trai t i h ng h n ngoan để nhờ người viết giấy mượn đất của gia đ nh t i, rồi giả mạo ch ý của mẹ t i và em t i, làm các thủ tục để chiếm đất của gia đ nh t i. Đề nghị hội đồng t ử ử phúc thẩm uộc ng Phạm Văn T phải trả lại diện tích đất cho gia đ nh t i và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ng Phạm Văn T.
Bị đơn ng Phạm Văn T trình bày: Việc mua án đất gi a ng và cụ Đinh Thị Đ đã được thể hiện ằng văn ản, có ch ý của cụ Đ, ng Bùi Văn Đ2 (con trai cụ Đ). Ông đã thanh toán đủ tiền 5000 đồng cho cụ Đ và cụ Đ đã lấy tiền án đất ao để ây sửa lại nhà của cụ. Sau hi viết giấy chuyển nhượng đất chính ng và cụ Đ đã đến nhà ng Bùi Quang V – lúc đó là đội trưởng đội sản uất để in ng V ý ác nhận vào đơn, sau đó ng T đã mang đơn đến chính quyền ã chứng thực, đơn đã được ng Phạm Thanh B – lúc đó là trưởng an quản lý ruộng đất ã Xuân Kiên ý ác nhận sau hi hai ên gia đ nh đã làm thủ tục àn giao đất ao. Việc àn giao đất ao gi a ng T và cụ Đ có sự chứng iến của nhiều người, cụ thể có mặt cụ Đ và các con của cụ Đ, ng Nguyễn Phi H, ông Bùi Quang V, ng Phạm Thanh B, ông Sáng, ông T2, ông Biên, ông Trịnh H1. Sau hi mua đất ao, gia đ nh ng T đã tự san lấp, vượt lập thành đất thổ cư, rồi ây nhà tre, nhà cấp 4, rồi đến năm 2012 ây nhà 03 tầng iên cố để ở. Quá tr nh san lấp ao, ây nhà gia đ nh cụ Đ đều iết và h ng có tranh chấp mâu thuẫn. Nay cụ Đ hởi iện đòi lại diện tích đất ao đã án cho ng - ông T h ng nhất trí với yêu cầu hởi iện và yêu cầu háng cáo của cụ Đ.
Người liên quan à Vũ Thị N nhất trí với ý iến tr nh ày của ng Phạm Văn T.
Nh ng người làm chứng có mặt tại phiên tòa phúc thẩm tr nh ày:
- Ông Nguyễn Phi H tr nh ày: Ông làm c ng tác ã hội tại óm nên có iết việc cụ Ô nói án đất ao, chính ng là người hướng dẫn ng T viết đơn chuyển nhượng đất, ng cũng là người ảo ng T phải lấy ch ý của ng Trịnh Viết T2 vào đơn. Khi các ên giao đất, ng cũng có mặt chứng iến, tại uổi giao đất có mặt ng Sáng, ng T2, ông V, cụ Trịnh N (lúc đó là í thư chi ộ xã), ông B (hàng xóm), ông B. Phía gia đ nh nhà cụ Đ có cụ Đ, ông Đ2, ông C1. Ông H xác nhận từ hi ng T mua đất ao, sau đó san lấp vượt lập ây nhà, gi a nhà ông T và cụ Đ h ng có tranh chấp iện tụng g . Đến sang năm 2020 th thấy nói cụ Đ iện đòi lại đất ao.
- Ông Bùi Quang V tr nh ày: Lúc đó ng V là đội trưởng đội sản uất số 01 xã Xuân Kiên nên ng có iết việc mua án đất ao gi a cụ Đ và ông T. Chính cụ Đ và ông T cùng mang đơn chuyển nhượng đất đến nhà ng V để in ng V ác nhận vào đơn chuyển nhượng đất. Khi đó đơn chuyển nhượng đất đã có ch ý của ng T cụ Đ, ng Bùi Văn Đ2. Ngày giao đất ao gi a ng T và cụ Đ thì ông V cũng có mặt chứng iến. Ông V ác nhận h m đó có mặt gia đ nh cụ Ô, ông T, ông Sáng, ông Biên, ông T2, cụ Trịnh Nguyên, ng B. Chính ông S và ông B là người trực tiếp đo và ác định mốc giới diện tích đất ao.
- Ông Phạm Thanh B tr nh ày: Lúc đó ng B là trưởng an quản lý ruộng đất ã Xuân Kiên nên ng có iết việc mua án đất ao gi a cụ Đ và ông T. Chính ông B là người được Chủ tịch Ủy an ã Xuân Kiên chuyển cho ng Đơn in chuyển nhượng đất gi a cụ Đ và ông T – hi đó trong đơn đã có ch ý của cụ Đ, ông T, ng Bùi Văn Đ2, ng Trịnh Viết T2, có chứng nhận của Ủy an ã. Ông B cầm đơn và uống thực địa để thẩm định lại số liệu diện tích đất đã chuyển nhượng gi a cụ Đ và ông T. H m đó có mặt cụ Đ, con trai con gái cụ Đ, ông T, các hộ gia đ nh liền ề, ng Bùi Quang V, ng Trịnh N (là í thư chi ộ óm). Sau hi hảo sát đo đạc diện tích, ác Định mốc giới đúng với nội dung đơn chuyển nhượng th lúc đó ng B mói ý ác nhận vào đơn, rồi trả lại đơn chuyển nhượng đất cho ng T và cụ Đ.
- Ông Ngô Trung L tr nh ày: Ông mua đất của cụ Đ vào năm 1988, hi đến mua đất th ng được iết th ng tin cụ Đ đã án cho ng T diện tích đất ao ở cạnh ên – lúc đó ng T đã san lấp đất ao thành đất thổ cư. Từ hi mua đất về ở tại đây, ng thấy gia đ nh nhà ng T và cụ Đ h ng có tranh chấp mâu thuẫn g về đất cát, chỉ đến năm 2019 nghe thấy nói từ việc iếu nhau một mâm cỗ mà gi a nhà cụ Đ và ông T phát sinh mâu thuẫn, sau đó thấy nói cụ Đ iện đòi lại đất ao đã án cho ng T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ng Phạm Thanh B, ông Bùi Quang V, ông Ngô Phi H đều cam đoan trước tòa và hẳng định việc mua án diện tích đất ao gi a cụ Đinh Thị Đ và ng Phạm Văn T vào năm 1984 là hoàn toàn đúng sự thật, đã diễn ra trên thực tế như lời tr nh ày của các ng đã hai.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát iểu ý iến:
Về tố tụng, quá tr nh giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng t ử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được ảo đảm.
Về nội dung háng cáo của nguyên đơn cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô): Căn cứ vào đơn đề nghị chuyển nhượng đất gi a cụ Đ và ông T, căn cứ vào lời hai người làm chứng và quá tr nh sử dụng thửa đất đang tranh chấp, thấy có căn cứ ác Đ1 có sự việc mua án đất ao gi a cụ Đinh Thị Đ và ng Phạm Văn T vào năm 1984. Diện tích đất ao cụ Đ bán cho ông T h ng vượt quá quyền quản lý, sử dụng, Đ1 đoạt của cụ Đ trong hối tài sản chung của vợ chồng nên được chấp nhận. Kháng cáo của cụ Đ đòi lại quyền sử dụng diện tích đất ao đã án và hủy a đỏ đã cấp cho ng T đều h ng có căn cứ pháp lý – nên đề nghị Hội đồng t ử phúc thẩm căn cứ hoản 1 Điều 308 BLTTDS: Kh ng chấp nhận yêu cầu háng cáo của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô), gi nguyên các quyết định của ản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng t ử nhận định:
Kháng cáo của nguyên đơn cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) làm trong thời hạn luật Đ1 nên được Hội đồng t ử em t theo tr nh tự tố tụng phúc thẩm.
X t nội dung háng cáo và các tài liệu chứng cứ do các đương sự uất tr nh tại phiên tòa phúc thẩm.
Về thủ tục tố tụng: Quá tr nh giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, h ng có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 07/7/2021, à Bùi Thị C đề nghị in được đi giám định ch ý và ch viết của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ông Bùi Văn Đ2 trong “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984 gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ng Phạm Văn T.
Căn cứ Điều 259 BLTTDS, Hội đồng t ử phúc thẩm đã tạm ngừng phiên tòa và gia hạn trong thời hạn 07 ngày ( ể từ ngày tạm ngừng phiên tòa) à Bùi Thị C phải nộp các tài liệu chứng cứ để làm thủ tục đi giám định theo quy định. Hết thời hạn 07 ngày ( ể từ ngày 07/7/2021 đến ngày 14/7/2021) à Bùi Thị C h ng nộp lệ phí giám định, h ng nộp tài liệu chứng cứ để làm thủ tục giám định theo quy định. Như vậy, ác định à Bùi Thị C đã từ ỏ yêu cầu đề nghị giám định ch ý và ch viết của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ông Bùi Văn Đ2 trong “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984 gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ng Phạm Văn T.
Do đó Hội đồng t ử phúc thẩm tiếp tục tiến hành phiên toà theo quy Đ1 của BLTTDS
X t tính hợp pháp của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ng Phạm Văn T.
- Về h nh thức: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ng Phạm Văn T được lập thành văn ản với tiêu đề “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984; Trong đơn có ch ý của cụ Đ, ông T, ng Bùi Văn Đ2 (con trai cụ Đ), có ch ý của người làm chứng ng Trịnh Viết T2, có ác nhận của Đội trưởng đội sản uất số 01 là ông Bùi Quang V, ác nhận của Trưởng an quản lý ruộng đất thời ỳ đó là ng Phạm Thanh B, đơn đã được Chủ tịch UBND ã Xuân Kiên chứng thực ngày 30/01/1984. Như vậy về mặt h nh thức th “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984 có giá trị pháp lý như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung của “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984 và diễn iến quá tr nh quản lý sử dụng thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên, có diện tích đo đạc thực tế hiện nay là 120m2.
Vợ chồng cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) được nhà nước giao quyền quản lý sử dụng đất thổ canh thổ cư và đất ao, có tÔg diện tích hoảng 336 m2. Năm 1973 cụ Bùi Văn Ô – là chồng cụ Đinh Thị Đ mất, h ng để lại di chúc. Năm 1984 cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) đã chuyển nhượng cho ng Phạm Văn T toàn ộ diện tích đất ao - hiện là thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên, có diện tích đo đạc thực tế hiện nay là 120m2; Việc chuyển nhượng được thể hiện ằng “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984 gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ng Phạm Văn T. Trong đơn “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” về phía gia đ nh cụ Đinh Thị Đ chỉ có ch ý của cụ Đ và con trai Bùi Văn Đ2.
Như vậy, cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) đã chuyển nhượng một phần diện tích đất trong hối tài sản chung của 02 vợ chồng mà h ng có đủ ch ý của các con trong “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” - là nh ng người được hưởng thừa ế tài sản của cụ Bùi Văn Ô. Tuy nhiên t thấy diện tích đất ao mà cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) đã chuyển nhượng là 147 m2 (đo đạc thực tế hiện nay là 120 m2) - chưa ằng ½ diện tích đất thuộc quyền sử dụng quản lý chung của vợ chồng cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô), vẫn nằm trong phạm vi phần quyền được quản lý, sử dụng, Đ1 đoạt của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) trong hối tài sản chung của vợ chồng, h ng vượt quá quyền tự Đ1 đoạt của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô), h ng ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa ế được thừa hưởng di sản của cụ Bùi Văn Ô – nên việc cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) tự định đoạt chuyển nhượng quyền sử dụng toàn ộ diện tích đất ao 147 m2 cho ng Phạm Văn T được chấp nhận.
Nh ng người làm chứng ông Ngô Phi H, Ngô Trung L, Bùi Quang V, Phạm Thanh B, hiện vẫn có lời hai hẳng định việc chuyển nhượng đất ao gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ông Phạm Văn T có diễn ra trên thực tế, việc mua án là có thật. Ông Bùi Quang V còn hẳng Đ1 cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ông T cùng mang “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đến nhà ng V để đề nghị ông V ác nhận vào đơn – và ông V đã ác nhận vào đơn trước mặt cụ Đ, ông T; Ông Phạm Thanh B hẳng định ng đã trực tiếp uống thực địa để ác định mốc giới với các hộ liền ề và trực tiếp hảo sát, đo đạc và thực hiện việc giao đất gi a các ên chuyển nhượng, sau đó ng B mới ác nhận vào “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Trên thực tế, từ năm 1984, gia đ nh ng Phạm Văn T đã quản lý sử dụng thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên, đã tự san lấp vượt lập từ đất ao sang thành đất thổ cư, đã ê hai và đã đứng tên chủ sử dụng Phạm Văn T trên ản đồ địa chính qua các thời ỳ từ năm 1987 đến nay, đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất theo quy định. Năm 2001 gia đ nh ng Phạm Văn T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong suốt quá tr nh quản lý sử dụng thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên, gia đ nh ng Phạm Văn T đã nhiều lần cải tạo, sửa ch a, ây dựng thành nhà iên cố như hiện nay. Quá tr nh gia đ nh ng Phạm Văn T cải tạo, ây sửa các c ng tr nh thành nhà iên cố cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và các con sống ngay liền ề đều iết và chứng iến nhưng đều h ng có tranh chấp và h ng có ý iến g . Khi ng Phạm Văn T tân gia nhà mới cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và các con còn sang mừng.
Trên cơ sở chứng cứ tài liệu đã thu thập, lời hai của người làm chứng, diễn iến quá tr nh sử dụng thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên trên thực tế, thấy có căn cứ pháp lý ác định năm 1984 cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) đã chuyển nhượng cho gia đ nh ng Phạm Văn T một phần diện tích đất trong hối tài sản chung của vợ chồng. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn ản với tiêu đề “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Diện tích đất mà cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) đã chuyển nhượng h ng vượt quá quyền quản lý, sử dụng, Đ1 đoạt của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô), h ng ảnh hưởng đến quyền lợi chung của các con - là người được thừa ế tài sản của cụ Bùi Văn Ô. Hội đồng t ử căn cứ quy định tại điểm .1 tiểu mục 2.2 mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thấy “Đơn đề nghị in chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ý ết ngày 19/01/1984 gi a cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) và ông Phạm Văn T được c ng nhận và có hiệu lực pháp luật. Ông Phạm Văn T có quyền được quản lý sử dụng thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên, có diện tích đo đạc thực tế hiện nay là 120m2.
Yêu cầu hởi iện cũng như yêu cầu háng cáo của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) đòi lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên có diện tích 120m2 và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đ nh ng Phạm Văn T, h ng có căn cứ pháp lý, nên h ng được Hội đồng t ử phúc thẩm chấp nhận.
Về án phí:
Kháng cáo của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) h ng được chấp nhận, tuy nhiên cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) là người cao tuổi nên theo quy định của Nghị quyết 326 của UBTVQH th cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô) h ng phải nộp án dân sự phúc thẩm.
Các quyết định hác của ản án sơ thẩm h ng có háng cáo - kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm h ng em t.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào hoản 1 Điều 308 BLTTDS: Kh ng chấp nhận yêu cầu háng cáo của cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô), gi nguyên các quyết Đ1 của ản án sơ thẩm.
2. Căn cứ vào hoản 2 Điều 2 Luật đất đai năm 1993; các Điều 105, 106, 107 Luật đất đai năm 2003; hoản 5 Điều 26, Điều 100, 167, 168, hoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; các Điều 690, 691, 692, 693, 696, 705, 707, 708 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 223, 500, 501, 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; hoản 9 Điều 26, hoản 1 Điều 35, Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm .1, tiểu mục 2.2, mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an Thường vụ Quốc hội.
Kh ng chấp nhận yêu cầu hởi iện của cụ Đinh Thị Đ (tên gọi khác Bùi Thị Ô) về việc đòi lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 74 tờ ản đồ số 01 ản đồ ã Xuân Kiên có diện tích 120m2 và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đ nh ng Phạm Văn T.
3. Về án phí:
Miễn án phí sơ thẩm dân sự và phúc thẩm dân sự cho cụ Đinh Thị Đ (tức Bùi Thị Ô)
4. Các quyết định hác của ản án sơ thẩm h ng có háng cáo - kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh NĐ - TAND, VKSND huyện Xuân Trường; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - Các đương sự; - Lưu HS, tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Mai Hương (Đã ký) |