vanban.org

Bản án 53/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm p,s,e khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 06 (Sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (Ngày 05 tháng 01 năm 2020). Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Đỗ Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn Đ số tiền 15.477.647đ ( Mười lăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích theo khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngư…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm p,s,e khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HS-ST
Ngày 14 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Đ, TỈNH QUẢNG NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quốc Tuấn.

2. Ông Lưu Xuân Giới.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2020/TLST - HS ngày 28 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2020/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H, sinh năm 1979 tại huyện T, thành phố Hải Phòng

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không xác định; Nơi đã cư trú ( theo lời khai của bị cáo): Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không đi học; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông ( không rõ họ tên cha) và bà Bùi Thị N; Vợ, con: Không có; Tiền án: không; Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ ngày 05 tháng 01 năm 2020; Bị tạm giam từ ngày 13 tháng 01 năm 2020 (hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh). Có mặt.

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.(Ông B đã chết vào ngày 14/02/2020).

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

1/ Bà Trần Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

2/ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn Y, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

3/ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

*Người làm chứng:

1/ Ông Đoàn Văn V, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

2/ Bà Lê Thị Â, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

3/ Ông Bùi Xuân H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

4/ Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

5/ Chị Bùi Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn C, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm và nhà ở nên từ năm 2008, Đỗ Văn H thường lang thang đến xã Y, thị xã Đ ( vì tại xã Y có chị Bùi Thị H, sinh năm 1984 là em gái cùng mẹ khác cha của H sinh sống tại đây). Năm 2019, H quen ông Nguyễn Văn B thỉnh thoảng cả hai đi uống rượu cùng nhau và theo yêu cầu của ông B thì Hải gọi ông B là bố.

Khoảng 16 giờ ngày 04/01/2020, khi đang đi lang thang qua đường liên thôn thuộc thôn Y, xã Y, thị xã Đ, H nhìn thấy ông B đang ngồi trên ghế đá dưới gốc cây đa ( đối diện nhà ông Bùi Xuân H) cùng với ông Đoàn Văn V. Thấy ông B và ông V đang trong tình trạng say rượu, H đến gần chỗ ông B rồi nói “ Suốt ngày rượu chè thì làm ăn được gì”. Sau đó ông B và H xảy ra tranh cãi. Thấy H và ông B to tiếng, ông V điều khiển xe đạp bỏ đi. Trong khi tranh cãi, ông B dùng tay tát vào má trái của H một nhát và đánh nhẹ hai cái vào gáy của H. H chỉ tay vào ông Biển đang đứng đối diện và nói “ Bố thích gì, bố không đủ tuổi đánh con” đồng thời H dùng tay đặt lên phần ngực của ông B và xô đẩy làm ông B ngã về phía sau, phần đầu bên trái của ông B đập vào viên gạch chỉ ở dưới nền sân bê tông. Thấy ông B nằm yên, H bỏ đi. Sau đó người dân đã thông báo cho anh Nguyễn Văn Đ là con của của ông B đến đưa ông B đi cấp cứu. Đến ngày 14/02/2020 do thương tích nặng nên ông B chết.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Tại vị trí ông Nguyễn Văn B bị Đỗ Văn H xô đẩy ngã xuống nền sân bê tông có một viên gạch chỉ bám vôi vữa ( mặt trên có hình chữ “ L”, mặt dưới bám dính vôi vữa không rõ hình, bản dài nhất là 25cm, bản rộng nhất là 19cm). Cơ quan điều tra đã thu giữ và niêm phong viên gạch.

Tại hồ sơ bệnh án và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 07/20/TgT ngày 08/01/2020 của Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận: Ông Nguyễn Văn B bị chấn thương sọ não và gãy cung sau xương sườn số 6 bên phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 62% ( Sáu mươi hai phần trăm) ( tiên lượng dè dặt). Các tổn thương do tác động va chạm bởi vật tày gây lên.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 27/20/TT ngày 18/02/2020 của Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận: Nguyên nhân ông Nguyễn Văn B chết do chấn thương sọ não.

Bản cáo trạng số 54/CT - VKS - ĐT ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: Vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 06 ( Sáu) năm đến 06 ( Sáu) năm 06 ( Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05 tháng 01 năm 2020).

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586 và Điều 591 Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo Đỗ Văn H phải bồi thường cho bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn Đ số tiền 15.477.647đ ( Mười lăm triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy một một viên gạch chỉ mặt trên có hình chữ “ L”, mặt dưới bám dính vôi vữa không rõ hình, bản dài nhất là 25cm, bản rộng nhất là 19cm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại bà Trần Thị L và anh Nguyễn Văn Đ đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ đã truy tố:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn H đều khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 04/01/2020 bị cáo một mình đi bộ đến khu vực ghế đá thuộc thôn Y, xã Y, thị xã Đ thì gặp ông Nguyễn Văn B đang ngồi nói chuyện với ông Đoàn Văn V, cả hai đều trong tình trạng đã uống rượu. Bị cáo có nói với ông B “ Cứ suốt ngày say như thế này thì làm ăn được gì?”, sau đó giữa bị cáo và ông B lời qua tiếng lại, thấy bị cáo và ông B cãi nhau thì ông Vang đứng dậy điều khiển xe đạp bỏ đi. Bất ngờ ông B dùng tay phải tát một cái vào bên má trái của bị cáo. Bị cáo có hỏi ông B “ Sao bố lại đánh con?” thì ông B không trả lời và đi xung quanh khu vực ghế đá, còn bị cáo thì vẫn ngồi ở ghế đá. Sau đó ông B đứng phía sau lưng bị cáo dùng tay chặt một cái vào gáy bị cáo, bị cáo có quay lại và nói với ông B “ Bố làm cái gì đấy?”, ông B trả lời “ Tao đánh mày đấy?” rồi sau đó bị cáo và ông B tiếp tục lời qua tiếng lại. Lúc đó bị cáo vẫn ngồi ở ghế đá, còn ông B vẫn đi xung quanh khu vực ghế đá và dùng tay chặt tiếp một cái vào gáy của bị cáo. Do quá bực tức vì bị ông B tát vào má và đánh vào gáy nên bị cáo đã đứng dậy quay người lại đối diện với ông B và nói “ Bố thích gì? Bố không đủ tuổi đánh con đâu!” rồi bị cáo để tay phải trước ngực ông B, thấy ông B có dấu hiệu lao về phía mình nên bị cáo dùng tay đẩy ông B ra vô tình làm ông B ngã ngửa về phía sau. Lúc này bị cáo thấy ông B nằm ở tư thế bất động, không ngồi được dậy, bị cáo sợ quá bỏ đi. Sau khi biết hành vi của mình gây thương tích cho ông B là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã đến Công an xã Y đầu thú và trình báo toàn bộ nội dung sự việc.

Bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn Đ có lời khai thể hiện: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/01/2020, gia đình có nhận được tin báo ông B bị Đỗ Văn H đánh gây thương tích nặng và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển( Uông Bí). Do bị chấn thương sọ não và bị gãy cung sau xương sườn số 6 bên phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên là 62% ( Sáu mươi hai phần trăm) nên ông B đã không qua khỏi và chết vào ngày 14/02/2020. Nay gia đình yêu cầu bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 15.477.647đ ( Mười lăm triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

Ông Đoàn Văn V có lời khai: Vào khoảng 16 giờ ngày 04/01/2020 khi đó ông và ông B đã uống rượu và trong tình trạng say, đang ngồi ở ghế đá dưới gốc cây đa đầu cổng trào thôn Y, xã Y thì Đỗ Văn H một mình đi bộ đến và cũng trong trạng thái đã uống rượu. Ông thấy H và ông B có lời qua tiếng lại với nhau, cụ thể nói những gì thì ông không nhớ, thấy vậy ông điều khiển xe đạp đi về nhà. Khoảng 10 phút sau ông quay lại thì thấy ông B nằm bất tỉnh ở dưới đất và xung quanh có nhiều người. Ông có hỏi mọi người thì được biết ông B bị H đẩy ngã.

Bà Lê Thị Â có lời khai: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 04/01/2020 bà đi xe máy đến quán cháo dinh dưỡng của vợ chồng chị L, anh H ở thôn Y, xã Y để mua cháo cho cháu. Bà nhìn sang bên kia đường, đối diện với quán cháo có hai người đàn ông đang trong tình trạng say rượu, dùng tay giằng co lẫn nhau và hai bên có lời qua tiếng lại. Có một người đàn ông khoảng 40 tuổi, mặc quần áo tối màu dùng tay đẩy ngã một người đàn ông khoảng 60 tuổi đứng đối diện, làm người này ngã ngửa về phía sau, đầu đập vào viên đá ở dưới đất, người đàn ông này nằm bất tỉnh ở dưới đất. Sau đó mọi người xung quanh kéo đến xem còn bà mua cháo đi về nhà.

Ông Bùi Xuân H có lời khai: Vào khoảng 16 giờ ngày 04/01/2020 khi ông đang ở nhà tại thôn Y, xã Y thì nghe thấy tiếng ồn ào ở bên ngoài đường nên ông chạy ra ngoài cổng nhà để xem. Ông thấy đối diện nhà ông cách khoảng 10m ở khu vực gốc đa có ông B đang cãi nhau với Đỗ Văn H. Sau đó ông nhìn thấy ông B dùng tay phải tát vào má bên trái của H, ông B đứng đối diện cách H khoảng 50cm. Bị tát, H có chỉ tay vào mặt ông B nói gì đó thì ông không nhớ, sau đó H ngồi xuống ghế đá cạnh gốc đa còn ông B cũng ngồi xuống ghế đá phía sau H. Thấy hai người không cãi nhau nữa nên ông đi vào nhà, khoảng 10 phút sau ông nghe thấy có người hô đánh nhau, ông chạy ra xem thì thấy ông B nằm ngửa dưới đất giơ hai tay lên. Nghĩ ông B không bị thương tích gì nên ông đi vào nhà.

Lời khai nhận của bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Tại vị trí ông Nguyễn Văn B bị Đỗ Văn H xô đẩy ngã xuống nền sân bê tông có một viên gạch chỉ bám vôi vữa ( mặt trên có hình chữ “ L”, mặt dưới bám dính vôi vữa không rõ hình, bản dài nhất là 25cm, bản rộng nhất là 19cm).

Tại hồ sơ bệnh án và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 07/20/TgT ngày 08/01/2020 của Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận: Ông Nguyễn Văn B bị chấn thương sọ não và gãy cung sau xương sườn số 6 bên phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 62% ( Sáu mươi hai phần trăm) ( tiên lượng dè dặt). Các tổn thương do tác động va chạm bởi vật tày gây lên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 27/20/TT ngày 18/02/2020 của Trung tâm giám định pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh kết luận: Nguyên nhân ông Nguyễn Văn Biển chết do chấn thương sọ não.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 04 tháng 01 năm 2020, tại khu vực thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, Đỗ Văn H đã dùng tay xô đẩy ông Nguyễn Văn B, làm ông B ngã đập đầu vào viên gạch dưới nền sân bê tông dẫn đến bị chấn thương sọ não và gãy cung sau xương sườn số 6 bên phải, đến ngày 14/02/2020 ông Biển chết.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 54/CT - VKS - ĐT ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng là người có lý lịch tương đối phức tạp và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Bị cáo không biết cha của mình là ai, theo lời khai của bị cáo mẹ chết khi bị cáo 16 tuổi, từ đó bị cáo sống lang thang, làm thuê ở nhiều nơi để sinh sống hàng ngày. Cũng theo lời khai của bị cáo do hồi nhỏ nghịch mìn khiến cho bị cáo bị cụt bốn ngón tay của bàn tay trái và bị mù một bên mắt phải; do bị tai nạn lao động trong khi đi làm thuê ở Hạ Long nên bị cáo bị chấn thương sọ não. Mặt khác bị cáo không có nhà cửa, không có nơi cư trú hợp pháp, chỉ có người thân duy nhất là chị Bùi Thị H (em gái cùng mẹ khác cha) sinh sống ở xã Y, thị xã Đ nên từ năm 2008 đến khi bị bắt, bị cáo về đây sinh sống trong một ngôi nhà hoang ở xã Y, ai thuê gì làm đấy để sống qua ngày. Mặc dù vậy bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; Sự việc xảy ra là do ông B đã có hành động tát 1 cái vào má và đánh vào gáy bị cáo 02 cái khiến cho bị cáo bực tức, không kìm chế, làm chủ được bản thân nên đã xô đẩy ông B ngã. Bị cáo đã phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Bị cáo cũng không ngờ rằng hành động đó của mình khiến ông B bị thương tích rất nặng ( bị chấn thương sọ não và gãy cung sau xương sườn số 6 bên phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 62%). Do ông B có tiền sử nghiện rượu nên sức khỏe yếu, khi gặp chấn thương nặng đã không qua khỏi, dẫn đến tử vong. Như vậy hành vi xô đẩy ông B khiến ông B bị thương tích nặng là lỗi cố ý của bị cáo H nhưng hậu quả khiến ông B chết là hoàn toàn khách quan, nằm ngoài suy nghĩ của bị cáo H. Với khuyết tật của bị cáo H, ngày 09 tháng 6 năm 2020 Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Ninh đã có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 86% ( Tám mươi sáu phần trăm). Căn cứ tại Điều 4 Nghị định số 28/2012/NĐ – CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ, bị cáo H thuộc diện người khuyết tật đặc biệt nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được sai phạm. Sau khi phạm tội đã chủ động đến Cơ quan Công an trình báo toàn bộ nội dung sự việc. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p,s,e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự để bị cáo thấy được tính khoan hồng trong chính sách pháp luật hình sự Nhà nước ta. Nhưng dù có xem xét giảm nhẹ thì với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội đã gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn Đ là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B có yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 15.477.647đ. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền trên nên Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) viên gạch chỉ bám vôi vữa ( mặt trên có hình chữ “ L”, mặt dưới bám dính vôi vữa không rõ hình, bản dài nhất là 25cm, bản rộng nhất là 19cm). Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên bị cáo H là người khuyết tật, tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ bồi thường nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ bồi thường theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm p,s,e khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

- Các Điều 584, 585, 586 và Điều 591 Bộ luật dân sự;

- Khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Khoản 1 Điều 23; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 06 (Sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (Ngày 05 tháng 01 năm 2020).

2.Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Đỗ Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn Đ số tiền 15.477.647đ ( Mười lăm triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Đỗ Văn H không trả số tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) viên gạch chỉ bám dính vôi vữa ( mặt trên có hình chữ “ L”, mặt dưới bám dính vôi vữa không rõ hình, bản dài nhất là 25cm, bản rộng nhất là 19cm).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 66 ngày 26 tháng 5 năm 2020 giữa Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 774.000đ (Bảy trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ bồi thường nhưng được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ bồi thường.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện theo pháp luật của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ