vanban.org

Bản án 53/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn Q 25 (hai mươi lăm) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/7/2020. Giao bị cáo Dƣơng Văn Q cho UBND xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Q- Phạm tội "Cố ý gây thương tích) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HS-ST
Ngày 29-7-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Q.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Phạm Thị Hợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2020/HSST ngày 18-6-2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn Q, sinh năm 1997; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn B, xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dƣơng Văn Đ và bà Bùi Thị N; gia đình có ba anh chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người bị hại:

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000

Trú tại: thôn A, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Xuân Th, sinh năm 1995.

Trú tại: thôn A, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng

2. Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1992;

3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991;

Đều trú tại: thôn A, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

3. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1994

Trú tại: Thôn A, xã Q, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

4. Cháu Lƣơng Quang T, sinh ngày 14/11/2002.

Ngƣời đại diện hợp pháp cho cháu T: Anh Lƣơng Ngọc B, sinh năm 1980 và chị Phạm Thị L, sinh năm 1984;

Đều trú tại: A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

Những ngƣời làm chứng và ngƣời đại diện hợp pháp cho ngƣời làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Dƣơng Văn Q và anh Nguyễn Văn T có quan hệ quen biết nhau từ trƣớc. Khoảng 19 giờ, ngày 26/11/2019, anh T có mời các anh Phạm Xuân Th, Lƣơng Quang Th, Dƣơng Văn Q đến quán lẩu nƣớng HTQ ở thôn A, xã Q ăn tối. Đến 22 giờ cùng ngày ăn xong, Q cùng anh T và anh Th sang bàn của anh Nguyễn Quốc T (là chủ quán) đang ngồi ăn cùng vợ là chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Văn K để mời uống rƣợu. Trong quá trình uống rƣợu thì xẩy ra mâu thuẫn, nên anh K đã dùng chân, tay đánh vào ngƣời Q. Q định đánh lại anh K thì đƣợc anh T và anh Th can ngăn và đẩy Q về quán cắt tóc của anh Th đối diện quán ăn. Tại đây, Q vẫn tiếp tục chửi bới và đòi sang phân bua với anh K. Thấy vậy, anh T tiếp tục can ngăn nhƣng không đƣợc nên xảy ra cãi nhau, anh T đã dùng tay tát nhiều nhát vào đầu và mặt Q, hai bên vẫn lời qua tiếng lại, chửi bới nhau. Sau đó, Q đi ra lấy xe máy của mình dựng ở trƣớc cửa quán cắt tóc để đi về thì nhớ ra trong cốp xe có 01 con dao bấm bằng kim loại, mũi nhọn, phần chuôi dao ốp nhựa giả gỗ. Do bực tức vì bị anh T đánh, chửi nên Q mở cốp cầm con dao bấm bằng tay phải, bật lƣỡi dao lên rồi tiến về phía anh T đang đứng trƣớc cửa quán cắt tóc của anh Th. Hai bên tiếp tục lao vào xô xát với nhau, Q dùng dao bấm đâm nhiều nhát vào ngƣời anh T, làm anh T bị thƣơng phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 26/11/2019 đến 02/12/2019 ra viện. Ngày 07/01/2020, anh T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Q.

Kết luận giám định pháp y số 22/TgT ngày 30/01/2020 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dƣơng kết luận: anh T bị 02 vết thƣơng vùng bụng gây thấu bụng, chảy máu ổ bụng đƣợc mổ nội soi thăm dò ổ bụng, hiện ổn định, để lại 05 sẹo vết thƣơng; 03 vết sẹo vết thƣơng phần mềm vùng ngực phải, mặt dƣới mô út tay trái kích thƣớc 1,5x0,2cm, 4,2x0,1cm đến 0,3cm và 6x0,2 đến 0,3cm. Các tổn thƣơng trên có đặc điểm do vật sắc nhọn gây nên. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây lên hiện tại là 12%.

Tại bản Cáo trạng số: 45/CT-VKS-TK ngày 15-6-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Dƣơng Văn Q về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (do bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm theo điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS. Tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”; xử phạt Dƣơng Văn Q từ 24 đến 27 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Dƣơng Văn Q cho UBND xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: không phải giải quyết; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm bằng kim loại, mũi nhọn; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngƣời bị hại anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các kết quả giám định thƣơng tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do bực tức vì bị anh Nguyễn Văn T tát nhiều cái vào mặt, đầu mình, nên khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 26/11/2019, Dƣơng Văn Q đã dùng dao bấm bằng kim loại có mũi nhọn, đâm nhiều nhát vào bụng anh T. Hậu quả anh Nguyễn Văn T bị thƣơng, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 12%. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác là trái pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện đã cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo dùng dao nhọn bằng kim loại là “hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS nên bị cáo Q phải chịu tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự an ninh trên địa bàn. Do vậy, cần xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo gây thƣơng tích với tỷ lệ % tổn thƣơng cơ thể quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS, tuy nhiên do bị cáo dùng hung khí nguy hiểm nên phải chịu tình tiết định khung tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS, vì vậy, áp dụng cho bị cáo tình tiết phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn; bị cáo đã cùng gia đình bồi thƣờng, khắc phục hậu quả cho ngƣời bị hại với số tiền 70.000.000 đồng, ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, có nơi cƣ trú cố định, phạm tội do nhất thời tự phát, ngƣời bị hại cũng có một phần lỗi khi mâu thuẫn đã đánh bị cáo trƣớc. Vì vậy, HĐXX xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách, tạo điều kiện cho bị cáo đƣợc cải tạo tại địa phƣơng cũng đủ giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, gia đình bị cáo và ngƣời bị hại đã tự thoả thuận bồi thƣờng xong về trách nhiệm dân sự, ngƣời bị hại không đề nghị bồi thƣờng gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra việc giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao bấm bằng kim loại, mũi nhọn bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị kinh tế nên tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Văn Q phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn Q 25 (hai mươi lăm) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/7/2020.

Giao bị cáo Dƣơng Văn Q cho UBND xã C, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ một con dao bấm bằng kim loại chiều dài 17,2cm, mũi nhọn, lƣỡi dao dài 7,2cm, bản rộng 2,2cm, một mặt ốp nhựa giả gỗ bên trong có gắn la bàn.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 23-7-2020).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Dƣơng Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ