vanban.org

Bản án 53/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 16/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y K (Tên gọi khác: K Mát) phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Y K: 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù, được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05(năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày(16/9/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y K (Tên gọi khác: K Mát) phạm tội “ Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HS-ST
Ngày 16 – 9 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Mơ và Lý Văn Vịnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hanh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2020/TLST- HS ngày 24 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST-HS ngày 04/9/2020, đối với bị cáo:

Y K (Tên gọi khác: K Mát), sinh năm 1997 tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Bon A, xã Đắk M, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: M’Nông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y H (đã chết) và bà H’DJ; bị cáo chưa có vợ con, Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/6/2020 đến ngày 06/8/2020 được thay đổi biện pháp tạm giam, áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh – có mặt.

Bị hại: Anh Vũ Bá H, sinh năm 27/4/2002 – vắng mặt.

Nơi cư trú: Bon J, xã Đắk M, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.

Người tham gia tố tụng khác:

Những người làm chứng:

1. Anh Đặng Tứ Đ, sinh ngày 21/11/1996 - vắng mặt.

Nơi cứ trú: Thôn Đắk H2, xã Đắk H, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.

2. Anh Trần Văn S, sinh ngày 11/7/2001- vắng mặt

Cùng nơi cư trú: Thôn E, xã Đắk Mhuyện ĐS, tỉnh Đắk Nông.

3. Chị H ’Kh, sinh ngày 20/02/2002 – vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Điểu Nh – Cán bộ hưu trí – có mặt.

Nơi cư trú: Bon N’Jrang L, xã Đắk N’D, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2020, Y K (Tên thường gọi K Mát) trên đường chạy xe đi làm về đến đoạn bon A, xã Đắk M, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông thì gặp Vũ Bá H, Trần Văn S và Đặng Tứ Đ đang ngồi uống nước tại quán nước mía của chị H ’Kh. Do trước đó H đánh em của Y K là Y P nên khi Y K nhìn thấy H thì dừng xe mô tô ngoài đường, trước hàng rào B40 của nhà chị H ’Kh để hỏi H. Y K ngồi trên xe nói với H(cách Y K khoảng 05m): “Chuyện của thằng P hôm bữa mày giải quyết sao rồi”, H trả lời: “ Đã giải quyết xong rồi”, Y K hỏi tiếp: “Sao mày đâm thằng P”, H lại nói: “ Thích thì đâm thôi”. Nghe H nói kiểu coi thường và khiêu khích nên Y K bực tức liền cúi xuống lấy 01 con dao rựa, cán bằng tre dài 85.2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm thường hay mang đi làm, đang kẹp bên hông xe mô tô. Y K cầm dao đi vòng về hướng cửa cổng chính vào nhà chị H ’Kh. Thấy Y K đi vào thì Đ và Sơn sợ Y K chém H nên đi tới can ngăn. Đ nói “Mày làm gì nóng vậY K, chuyện xong rồi thì thôi”, Đ vừa nói vừa cầm vào cán dao của Y K nhưng Y K giật mạnh tay ra khỏi tay của Đ. Y K đến vị trí của H đang ngồi, cầm dao bằng tay phải giơ lên chém mạnh một phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào người H, H né người qua một bên thì mũi dao của Y K trúng vào gót chân bên phải của H. H bỏ chạy ra ngoài đường thì bị Y K cầm dao đuổi theo ra đến cổng rồi dừng lại, sau đó lên xe bỏ về. Vũ Bá H bị thương được S và Đ đưa đi cấp cứu tại trung tâm Y tế huyện Đắk Mil. Cơ quan CSĐT công an huyện Đắk Song đã thu giữ 01 con dao rựa, cán bằng tre dài 38.2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm.

Tại bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số: 163/TKT ngày 16/6/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận: Vũ Bá H bị đứt bán phần gân gót chân phải, không ngắn gân, tỷ lệ tổn thương cơ thể 11% sức khỏe, sẹo vết thương phần mềm, kích thước trung bình, số lượng ít, tỷ lệ 02% sức khỏe, mẻ xương gót chân phải, tỷ lệ 01%, cộng lùi 0.87% sức khỏe. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Bá H là 14% sức khỏe.

Tại bản cáo trạng số: 48/CT – VKS – ĐS ngày 24/8/2020 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Y K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố Y K phạm tội “ Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo Y K từ 02(hai) năm đến 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

Việc bồi thường thiệt hại: Y K đã bồi thường cho Vũ Bá H số tiền 1.000.000 đồng(một triệu đồng). Người bị hại Vũ Bá H có đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao rựa, cán bằng tre dài 38.2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm mà Y K dùng để chém anh H đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử (HĐXX) đã có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Y K là người có năng lực trách nhiện hình sự, có đầy đủ nhận thức để biết được sức khỏe của con là vốn quý được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng do bực tức về câu nói nên vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2020, Y K trên đường đi làm về đến khu vực bon A, xã Đắk M, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông thì gặp Vũ Bá H. Do bực tức trong việc H dùng dao đâm em mình trước đó và việc H nói chuyện gây bức xúc nên Y K đã dùng 01 con dao rựa, cán bằng tre dài 58.2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm chém anh Vũ Bá H gây thương tích vùng gót chân phải, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14% sức khỏe. Như vậy, hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.

…..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm .

a) ……

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của anh Vũ Bá H được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức để biết được sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng do ý thức coi thường chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống bị cáo đã không lựa chọn cách giải quyết ôn hòa mà đã dùng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh H. Tuy nhiên, nguyên nhân của vụ án là do hằn thù cá nhân, Y K cho rằng trước đó vào tháng 3/2020 Vũ Bá H sử dụng hung khí đánh gây thương tích cho Y P là em họ của Y K nhưng H chưa xin lỗi mà còn thách thức, tuy bị cáo không bị kích động mạnh về tinh thần nhưng trong trường hợp này người bị hại H có một phần lỗi do đó đối với bị cáo cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Y K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã khắc phục hậu quả cho bị hại, Vũ Bá H và gia đình đã có đơn xin bãi nại, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Y K, bị cáo là người dân tộc thiểu số không biết chữ nên hạn chế hiểu biết pháp luật, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, HĐXX nhận thấy cần xem xét tình tiết trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta.

Bị cáo Y K có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được học tập, cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét đề nghị về mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa hôm nay là phù hợp cần chấp nhận.

Đối với hành vi Vũ Bá H sử dụng hung khí gây thương tích cho Y P, sau đó giữa Vũ Bá H và gia đình Y P đã thỏa thuận với nhau, không yêu cầu xử lý. Hiện Y P đã đi khỏi địa phương nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song chưa thể triệu tập làm việc. Do đó tách vụ việc nói trên để tiếp tục điều tra, xử lý sau nên cần chấp nhận.

Về việc bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự chấp nhận việc bị cáo Y K đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Vũ Bá H với số tiền 1.000.000 đồng(một triệu đồng). Bị hại anh Vũ Bá H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01(một) con dao rựa, cán bằng tre dài 85.2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm là vật chứng Y K đã sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Y K (Tên gọi khác: K Mát) phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Y K: 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù, được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05(năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày(16/9/2020).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đắk Mol, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về việc bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận việc bị cáo Y K đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Vũ Bá H với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Bị hại anh Vũ Bá H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01(một) con dao rựa, cán bằng tre dài 85.2cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32cm là vật chứng Y K đã sử dụng để phạm tội.

(Đặc điểm vật chứng và số tiền đã giao theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đắk Song ngày 26/8/2020).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Y K phải nộp 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ