- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAN VĂN C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2020/HS-ST Ngày: 18-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Ẩn.
2. Ông Mai Văn To.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Phan Văn C, tên gọi khác: không, sinh năm 1986 tại Long An. ĐKTT: Ấp 2, xã N, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn N, sinh năm 1944 (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1951; Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc Đ (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Trần Tấn P, sinh năm 1987
ĐKTT: Ấp 6, xã T, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
- Người làm chứng:
1. Phan Tấn L, sinh năm 1976.
ĐKTT: Ấp 2, xã N, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
2. Phan Văn B, sinh năm 1993.
ĐKTT: Ấp 2, xã N, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
3. Phan Tấn H, sinh năm 1981.
ĐKTT: Ấp 2, xã N, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/9/2019, Trần Tấn P đi nhậu về thấy tại quán cà phê “N” thuộc ấp 2, xã N, huyện B, tỉnh Long An có Phan Tấn L, Phan Tấn H, Phan Văn C đang ngồi nhậu nên P đi vào quán và ngồi nhậu chung. Trong lúc nhậu, P và C có lời qua tiếng lại dẫn đến mâu thuẫn và tranh cãi gay gắt, C nhiều lần mời P ra về nhưng P không về, tiếp tục có thái độ thách thức C đánh mình. Không kiềm chế được nên C dùng 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu PEPSI loại 330ml bằng thủy tinh đánh 01 cái trúng vào vùng cổ bên phải của P gây thương tích. Sau đó P có lấy 02 chai nước ngọt định đánh lại nhưng được mọi người can ngăn và đưa P về nhà. P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An, đến ngày 02/10/2019 xuất viện và làm đơn tố cáo hành vi của C. Quá trình điều tra, C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra không thu hồi được vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu PEPSI loại 330ml bằng thủy tinh mà C sử dụng gây thương tích cho P do sau khi xảy ra vụ việc thì người nhà của C đã thu dọn bỏ thùng rác mất nhưng Cơ quan điều tra đã cho P và C nhận dạng xác định hung khí mà C sử dụng gây thương tích cho P có đặc điểm như sau: Vỏ chai bằng thủy tinh trong suốt, cao 24,9cm, đường kính 2,4cm, dày 3mm, đường kính đáy 5,1cm, bên ngoài vỏ có dòng chữ PEPSI dung tích 330ml.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 194/TgT.19-PY ngày 08/11/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trần Tấn P là 03%.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSBL ngày 20/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố Phan Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn C hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan, xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo là đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đang nuôi con nhỏ nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:
Bị cáo Phan Văn C từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18-6-2020.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại anh Trần Tấn P không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét đến.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu được, theo bản nhận dạng vật chứng Cơ quan điều tra đã cho P và C nhận dạng xác định hung khí mà C sử dụng gây thương tích cho P có đặc điểm như sau: Vỏ chai bằng thủy tinh trong suốt, cao 24,9cm, đường kính 2,4cm, dày 3mm, đường kính đáy 5,1cm, bên ngoài vỏ có dòng chữ PEPSI dung tích 330ml.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo, bị hại không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường và những chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/9/2019, Phan Văn C và Trần Tấn P xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân trong lúc ngồi nhậu chung với nhau tại quán cà phê “Ngọc Diệp” thuộc ấp 2, xã N, huyện B, tỉnh Long An, C đã dùng 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu PEPSI loại 330ml bằng thủy tinh đánh 01 cái trúng vào vùng cổ bên phải của P gây thương tích 03%. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo là không oan sai, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ giữa bị cáo với bị hại trong lúc đang uống bia tại quán, chỉ vì lời nói tranh cãi qua lại mà bị cáo tức giận không kiềm chế được bị cáo đã dùng vỏ chai nước ngọt bằng thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng cổ bên phải của anh P gây thương tích tỷ lệ 03%. Bị cáo cũng nhận biết sức khỏe là vốn quý nhất của con người và được pháp luật bảo hộ, bị cáo cũng nhận biết việc gây thương tích cho bị hại và làm cho bị hại bị giảm sút về sức khỏe và khả năng lao động là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo bất chấp, chứng tỏ bị cáo đã xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét tính chất hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đã ly hôn đang nuôi con nhỏ, bị hại có đơn bãi nại và xác định có một phần lỗi của bị hại nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhất thời phạm tội. Do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, giao chính quyền địa phương cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo như Kiểm sát viên đề nghị.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại anh Trần Tấn P không yêu cầu bồi thường dân sự nên ghi nhận không xét đến.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu được, theo bản nhận dạng vật chứng Cơ quan điều tra đã cho P và C nhận dạng xác định hung khí mà C sử dụng gây thương tích cho P có đặc điểm như sau: Vỏ chai bằng thủy tinh trong suốt, cao 24,9cm, đường kính 2,4cm, dày 3mm, đường kính đáy 5,1cm, bên ngoài vỏ có dòng chữ PEPSI dung tích 330ml.
Về án phí: Bị cáo Phan Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:
Bị cáo Phan Văn C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18-6-2020).
Giao bị cáo Phan Văn C về cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trong trường hợp bị cáo Phan Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phan Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Toà án nhân dân tỉnh Long An;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Sở tư pháp tỉnh Long An;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
Lê Hùng Cường
Hội thẩm nhân dân
Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Ngọc Ẩn Mai Văn To
Lê Hùng Cường
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hùng Cường |