- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Dương Thị Bích T xin ly hôn anh Nguyễn Phước K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Bích T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2020/HNGĐ-ST Ngày 13 - 5 - 2020 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huyền Trân Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Kha.
Ông Võ Thanh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.
Ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 83/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Bích T, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp HT, xã G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phước K, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp TH, xã G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Dương Thị Bích T trình bày: Chị và anh K sống chung vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, thành phố C. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau là do anh K thường xuyên ăn nhậu không chăm lo cho gia đình. Nay chị xác định mâu thuẩn giữa vợ chồng quá lớn không thể hàn gắn và chị không còn tình cảm với anh K nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị T xác định có 01 người con chung tên Nguyễn Dương Phước S, sinh ngày 29/8/2009. cháu S đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu S, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị T khai không có.
Về nợ chung: Chị T khai không có nợ ai và cũng không ai nợ lại anh, chị.
Đối với anh Nguyễn Phước K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Phước K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, thành phố C, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh K là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị T cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh K phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do anh K thường xuyên nhậu nhẹt không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường hay cự cãi nhau, mâu thuẩn giữa vợ chồng vì vậy mà ngày càng trầm trọng và hiện nay chị không thể tiếp tục chung sống với anh K được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Anh K mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình, không nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình chứng tỏ anh K cũng không có mong muốn được hàn gắn với chị T nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T cho chị T được ly hôn với anh K.
[3] Về con chung: Chị Tiền xác định có 01 người con chung tên Nguyễn Dương Phước S, sinh ngày 29/8/2009. cháu S đang sống chung với chị T và chị Tcó yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu S.
Hội đồng xét xử xét thấy việc nuôi dạy con là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dạy cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và tại biên bản ghi nhận nguyện vong con chung khi cha mẹ ly hôn ngày 14/02/2020 cháu S có nguyện vọng được sống chung với chị T. Xét thấy cháu S hiện nay đang sống chung với chị T và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị T. Do đó, tiếp tục giao cháu S cho chị nuôi là phù hợp. Mặc dù, giao con cho chị T nuôi nhưng nếu trong thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng chị T gặp khó khăn hoặc cản trở việc anh K thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình đối với con thì anh K vẫn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị T xác định không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị T khai không có, không xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình chị T phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Bích T.
Về hôn nhân: Chị Dương Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Phước K.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Dương Phước S, sinh ngày 29/8/2009, hiện đang sống với chị T cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh K.
Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không xem xét.
Về nợ chung: Không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Chị Dương Thị Bích T phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12/02/2020, chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0001407 Tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp.Cà Mau; - Các đương sự; - UBND xã Hòa Thành, Tp cà Mau; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Huyền Trân |