vanban.org

Bản án 53/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trương Thị Liên T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Liên T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Phong A. Về con chung: Bà Trương Thị Liên T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thùy Anh T, sinh ngày 24/6/2016. Ông Nguyễn Tấn Phong A không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Liên T "Tranh chấp ly hôn" Nguyễn Tấn Phong A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trương Thị Liên T.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 5 - 2020
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Văn Hùng

2. Bà Lê Thị Cẩm Tú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2020/QĐXX-ST ngày 20/4/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Liên T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Phong A, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Trương Thị Liên T thể hiện:

Bà T và ông Nguyễn Tấn Phong A chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian dài, đến tháng 8/2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông A không tin tưởng bà T, ghen tuông vô cớ, cuộc sống vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Ông bà đã ly thân từ khoảng tháng 02/2020 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông A.

Về con chung: Bà T và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Thùy Anh T, sinh ngày 24/6/2016, con đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn Phong A trình bày:

Ông A thống nhất với lời trình bày của bà T về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý, vì ông còn thương vợ thương con, ông muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này. Ông A đã đề nghị Tòa án cho ông thời gian để vợ chồng hòa giải, hàn gắn nhưng đế nay ông cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông chỉ hi vọng bà T bỏ qua mọi lỗi lầm của ông, ông hứa sẽ sửa đổi, không ghen tuông vô cớ để vợ chồng tiếp tục chung sống và nuôi dưỡng con.

Trường hợp giữa ông và bà T không thể hàn gắn được, Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn, ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con nhưng có điều kiện ông vẫn sẽ chu cấp tiền nuôi con và tới lui thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở, gây khó khăn cho việc ông thăm con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dược thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị Liên T nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Tấn Phong A có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Về phạm vi giải quyết của Hội đồng xét xử: Theo đơn khởi kiện của bà T yêu cầu ly hôn với ông A. Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà T và ông A tự nguyện tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn ngày 27/8/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà T yêu cầu ly hôn vì cho rằng ông A không tin tưởng bà, ghen tuông vô cớ, cuộc sống vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, đã ly thân từ khoảng tháng 02/2020 đến nay. Bị đơn ông A thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như lời bà T trình bày. Tuy nhiên, ông A không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ thương con, ông muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này

Xét thấy, bà T và ông A đều thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hai bên không còn sống chung, không còn quan tâm lo lắng cho nhau. Mẫu thuẫn giữa hai bên không hòa giải được. Tại phiên tòa, bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, ông A không đồng ý, đã đề nghị Tòa án cho thời gian để vợ chồng hàn gắn nhưng đến nay ông cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân.

Do đó, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Trương Thị Liên T và ông Nguyễn Tấn Phong A là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Tấn Phong A.

Về con chung: Bà T và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Thùy Anh T, sinh ngày 24/6/2016, con đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông A có ý kiến: Trường hợp Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn, ông đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con, sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định pháp luật nên cần ghi nhận để chấp nhận yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung của bà T.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Trương Thị Liên T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trương Thị Liên T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Liên T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Phong A.

Về con chung: Bà Trương Thị Liên T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thùy Anh T, sinh ngày 24/6/2016. Ông Nguyễn Tấn Phong A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Bà Trương Thị Liên T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004683 ngày 14/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ