- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mộng Kiều - Đỗ Tấn Sĩ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng K đối với anh Đỗ Tấn S.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2020 V/v: “Ly hôn giữa chị K và anh S”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Hải
2. Ông Nguyễn Văn Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP.Cần Thơ.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Tấn S, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP.Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng K trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 1992 do mai mối và được sự đồng ý của cha, mẹ gia đình hai bên nên chị và anh Đỗ Tấn S đã cưới nhau, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống cũng khác. Khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, ngược lại càng gay gắt hơn. Đến năm 2005 mâu thuẫn quá trầm trọng nên chị và anh S đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân đi vào bế tắc, không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh S.
- Về con chung: Có ba con chung tên Đỗ Thị Hoàng Oanh (nữ), sinh ngày 11/11/1993; Đỗ Thị Ngọc Trâm (nữ), sinh ngày 26/4/1996; Đỗ Thị Cẩm Tú (nữ), sinh ngày 21/9/2000. Các con đã trên 18 tuổi nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Tấn S không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Mộng K khởi kiện anh Đỗ Tấn S có địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ với yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Khi tiến hành xét xử, anh Đỗ Tấn S được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mộng K trình bày, chị và anh Đỗ Tấn S do mai mối và được sự đồng ý của cha, mẹ gia đình hai bên nên chị và anh Đỗ Tấn S đã cưới nhau, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong thời kỳ hôn nhân, giữa chị và anh S có nhiều mâu thuẫn, bất hòa dẫn đến chị và anh S không còn chung sống với nhau từ năm 2005 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân đi vào bế tắc, không đem lại hạnh phúc cho cả hai nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh S. Còn anh S, mặc dù đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để giải quyết, nhưng anh S vẫn không đến và cũng không có bất cứ văn bản nào gửi cho Tòa án để nêu ý kiến của mình. Như vậy, anh S đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị K và anh S không có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh, chị không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Vì vậy, không công nhận chị K và anh S là vợ chồng.
Về con chung: Nguyễn Thị Mộng K và anh Đỗ Tấn S có ba con chung, nhưng hiện nay đều đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là tự thỏa thuận, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mộng K phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 51; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng K đối với anh Đỗ Tấn S.
1.1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Mộng K và anh Đỗ Tấn S.
1.2. Về con chung: Ba con chung tên Đỗ Thị Hoàng Oanh (nữ), sinh ngày 11/11/1993; Đỗ Thị Ngọc Trâm (nữ), sinh ngày 26/4/1996; Đỗ Thị Cẩm Tú (nữ), sinh ngày 21/9/2000 đã trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
1.3. Về tải sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là tự thỏa thuận, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
1.4. Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mộng K phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị K đã nộp theo biên lai số 012893 ngày 12 tháng 12 năm 2019 thành án phí.
3. Tuyên án công khai. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - Phòng Tư pháp huyện Cờ Đỏ; - TAND TP.Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Sang |