vanban.org

Bản án 53/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 274; 275; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều

27 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; 91; 147; khoản 2 Điều 227; 228; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử: Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 274; 275; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:53/2020/DS-ST
Ngày: 24/7/2020.
V/v: Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện

Ông Trương Đức Lâm

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án

nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Ong Văn Chúc - Kiểm sát viên

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp

Hòa, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2020/TLST-DS, ngày 11 tháng 02 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 51/2020/QĐXXST-DS ngày 29/05/2020 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1961(Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố Trung Đồng, thị trấn Thắng ( thôn Trung Đồng,

xã Đức Thắng cũ), huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

*Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 03 ( Khu 5 cũ), thị trấn Thắng, huyện Hiệp

Hòa, tỉnh Bắc Giang(Có mặt)

*Bị đơn:

1. Anh Ngô Đình S, sinh năm 1984(Vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Lý Viên, xã Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Phùng Thị C, sinh năm 1988(Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Lý Viên, xã Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Anh S và chị C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Bà Đặng Thị Lý, sinh năm 1962(Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố Trung Đồng, thị trấn Thắng ( thôn Trung Đồng,

xã Đức Thắng cũ), huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 03 (Khu 5 cũ), thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa,

tỉnh Bắc Giang(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2019, kèm theo giấy tờ tài liệu

liên quan và tại phiên toà đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày như sau: Do có quan hệ quen biết nên ngày 25/02/2016 (âm lịch) tức ngày 02/4/2016(dương lịch) anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C có vay của ông Nguyễn Văn C số tiền 200.000.000đ, khi vay anh S và chị C có viết và ký “Giấy biên nhận vay tiền có tài sản thế chấp” với nội dung anh S và chị C vay cuả ông Ngô Đình S số tiền là 200.000.000đ và anh S chị C còn cam kết trong giấy nhận vay tiền của mình là anh S và chị C thế chấp cho ông Nguyễn Văn C nhà ba tầng đang ở tại địa chỉ xã Bắc Lý, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Việc cam kết thế chấp này hai bên chỉ thoả thuận trên giấy tờ chứ chưa thực hiện việc thế chấp theo quy định của pháp luật.Trong giấy vay tiền thì hai bên không thoả thuận với nhau về thời hạn trả nợ còn lãi suất hàng tháng thì hai bên tự thoả thuận là 1,5%/tháng, khoản vay này anh S và chị C chưa trả cho ông C đồng tiền lãi nào. Ông C đề nghị anh S và chị C phải có trách nhiệm trả cho ông C và bà Lý số tiền 200.000.000đ tiền gốc cùng lãi suất của số tiền từ khi vay đến nay.

Đến ngày 16/6/2016(Âm lịch), anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C tiếp

tục vay thêm của ông Nguyễn Văn C số tiền là 30.000.000đ nhưng không có cam kết tài sản thế chấp, thời hạn trả nợ còn lãi suất hai bên tự thoả thuận với nhau là 1,5%/tháng. Khoản vay này anh S và chị C chưa trả cho ông C đồng tiền lãi nào.

Ông C đã nhiều lần đến nhà anh S và chị C đòi tiền nhưng anh S và chị C

đã không trả cho ông C. Hiện nay, ông C được biết anh S và chị C đã bán nhà ba tầng ở Bắc Lý, Hiệp Hoà nhưng không trả tiền cho ông. Nay ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc vợ chồng anh S và chị C có trách nhiệm thanh toàn cho ông hai khoản tiền vay là 230.000.000đ cùng lãi suất là 1,5%/tháng của hai khoản vay trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị Lý do bà

Nguyễn Thị H là đại diện theo uỷ quyền trình bày: Bà Lý hoàn toàn nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Nguyễn Văn C đề nghị Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà buộc anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng bà số tiền gốc và lãi như ông C đã yêu cầu.

Tuy nhiên, tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của ông C và bà Lý

không đề nghị Hội đồng xét xử tính lãi số tiền vay theo lãi suất hai bên đã thoả thuận với nhau là 1,5%/tháng nữa mà đề nghị tính lãi theo lãi suất ngân hàng nhà nước với mức lãi suất là 9%/năm tương ứng với thời gian vay tiền của hai khoản vay. Đồng thời, bà H cũng yêu cầu thời gian tính số tiền lãi thì tính chẵn cho bà còn số ngày lẻ chưa đủ tháng bà tự nguyện không yêu cầu HĐXX phải tính, cụ thế đối với khoản vay 200.000.000đ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 51 tháng 22 ngày thì bà yêu cầu tính là 51 tháng và khoản vay 30.000.000đ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 49 tháng 08 ngày thì bà cũng chỉ yêu cầu tính đến 49 tháng.

Phía bị đơn là anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C đã được Toà án nhân

dân huyện Hiệp Hoà giao thông báo và triệu tập nhiều lần nhưng không đến Toà án để làm việc.

Ngày 20 tháng 7 năm 2020, Cán bộ Toà án có đến gia đình anh Ngô Đình

S để giao Quyết định hoãn phiên toà khi đó có chị C ở nhà. Chị C đã trình bày là hiện tại chị C không nhớ gì về việc vay tiền giữa ông C và chồng chị và chị sẽ bàn bạc với chồng chị và vợ chồng chị sẽ lên Toà án làm việc nhưng chị C và anh S cũng không lên Toà án.

Tại phiên tòa, KSV phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp

luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Phía bị đơn đã không chấp hành đúng theo quy định của pháp luật khi các Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu để giải quyết vụ án.

Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng:

Điều 275; 463; 466; 468; 469 BLDS; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228;

Điều 271; Điều 273 BLTTHS.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Xử:

Buộc vợ chồng anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C phải có trách nhiệm

thanh toán cho vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Đặng Thị Lý số tiền là:

+ Khoản vay thứ nhất từ ngày 25/02/2016(Âm lịch) tức ngày

02/4/2016(Dương lịch) tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 51 tháng 22 ngày thì số tiền lãi anh S và chị C phải trả là: 51 tháng x 0,75% x 200.000.000đ = 76.500.000đ

+ Khoản vay thứ hai từ ngày 16/6/2016(Dương lịch) tính đến ngày xét

xử sơ thẩm là 49 tháng thì số tiền lãi anh S và chị C phải trả là:

49 tháng x 0,75% x 30.000.000đ = 11.025.000đ

Như vậy, vợ chồng anh S và chị C phải trả cho ông C và bà Lý số tiền là:

317.525.000đ( Ba trăm mười bảy triệu, năm trăm hai mươi năm nghìn đồng) (Trong đó số tiền gốc là: 230.000.000đ và số tiền lãi là: 87.525.000đ.

Về án phí: Anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C phải liên đới chịu

15.876.000đ ( Mười năm triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;

Ông Nguyễn Văn C và bà Đặng Thị Lý không phải chịu án phí DSST, hoàn trả lại cho ông nguyễn Văn C số tiền 5.750.000đ ( Năm triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2018/0003579 ngày 11/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i

phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

.Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 23/05/2019 của ông Nguyễn Văn C HĐXX

xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Mặc dù phía bị đơn là anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C đã được Tòa

án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên cần áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh S và chị C.

.Về nội dung: Xét việc ông Nguyễn Văn C yêu cầu anh anh Ngô

Đình S và chị Phùng Thị C phải thanh toán trả tiền gốc là 230.000.000đ và lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày vay đến nay thấy rằng: Qua các chứng cứ cũng như các tài liệu do phía nguyên đơn xuất trình cùng bản tự khai và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền tại Toà án thì thấy ngày 25/02/2016(Âm lịch) tức ngày 02/4/2016 (Dương lịch) vợ chồng anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C có vay của ông C số tiền là 200.000.000đ và ngày 16/6/2016(Dương lịch) vợ chồng anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C có vay của ông Nguyễn Văn C số tiền là: 30.000.000đ. Khi vay hai bên có viết giấy “ Giấy biên nhận vay tiền có thế chấp tài sản”, lãi suất do hai bên tự thỏa thuận và không thể hiện thời hạn trả nợ. Tuy nhiên, kể từ thời điểm anh S, chị C vay tiền ông C đến nay anh S và chị C không trả tiền gốc và tiền lãi cho ông C mặc dù ông C đã tiến hành đòi tiền nhiều lần. Việc anh S, chị C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông C là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 466 – Bộ luật dân sự, là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự đối với vợ chồng ông C nên việc ông C khởi kiện yêu cầu anh S, chị C số tiền gốc 230.000.000đ là có căn cứ.

Phía nguyên đơn đã xuất trình hai giấy vay tiền có chữ ký của anh S và

chị C, Toà án đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt các thông báo và giấy triệu tập cho anh S và chị C nhưng anh S và chị C đã không lên Toà án giải quyết để thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Hơn nữa, trực tiếp Toà án đã làm việc với chị C nhưng chị C cũng không hợp tác, không đưa được chứng cứ cũng như ý kiến của chị đối với việc khởi kiện của ông C, chị có đồng ý lên Toà án để làm việc nhưng chị cũng không đến làm việc. Vì vậy, Toà án căn cứ vào các chứng cứ nguyên đơn xuất trình và quan hệ vợ chồng của anh S và chị C để buộc anh S và chị C phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông C và bà Lý là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

Với yêu cầu tính lãi của ông C và sự thay đổi yêu cầu tại phiên toà

HĐXX xét thấy, yêu cầu của ông C và bà Lý do bà Nguyễn Thị H là đại diện theo uỷ quyền buộc anh S và chị C phải trả cho ông C và bà Lý số tiền lãi của hai khoản vay theo quy định pháp luật là 9%/năm (tương đương 0.75%/tháng) và thời gian tính lãi của hai khoản vay được giảm bớt có lợi cho phía bị đơn là sự tự nguyện của ông C và bà Lý nên cần chấp nhận mức lãi suất và thời gian tính lãi này để buộc anh S và chị C phải có nghĩa vụ trả số tiền lãi tương ứng với số tiền vay cho ông C và bà Lý là có căn cứ.

Từ đó số tiền lãi được tính như sau:

+ Khoản vay thứ nhất từ ngày 25/02/2016(Âm lịch) tức ngày

02/4/2016(Dương lịch) tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 51 tháng thì số tiền lãi anh S và chị C phải trả là:

51 tháng x 0,75% x 200.000.000đ = 76.500.000đ

+ Khoản vay thứ hai từ ngày 16/6/2016(Dương lịch) tính đến ngày xét xử

sơ thẩm là 49 tháng thì số tiền lãi anh S và chị C phải trả là:

49 tháng x 0,75% x 30.000.000đ = 11.025.000đ

Như vậy, vợ chồng anh S và chị C phải trả cho ông C và bà Lý số tiền là:

317.525.000đ( Ba trăm mười bảy triệu, năm trăm hai mươi năm nghìn đồng) (Trong đó số tiền gốc là: 230.000.000đ và số tiền lãi là: 87.525.000đ.

.Về án phí: Về án phí: Anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C phải liên

đới chịu 15.876.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm;

Ông Nguyễn Văn C và bà Đặng Thị Lý không phải chịu án phí DSST,

hoàn trả lại cho ông nguyễn Văn C số tiền 5.750.000đ ( Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2018/0003579 ngày 11/2/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 274; 275; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều

27 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; 91; 147; khoản 2 Điều 227; 228; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C

Buộc vợ chồng anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C phải có nghĩa vụ

thanh toán trả cho ông Nguyễn Văn C số tiền là: 317.525.000đ( Ba trăm mười bảy triệu, năm trăm hai mươi năm nghìn đồng) trong đó số tiền gốc là: 230.000.000đ và số tiền lãi là: 87.525.000đ.

Về án phí: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc anh Ngô Đình S và chị Phùng Thị C phải liên đới chịu 15.876.000đ ( Mười năm triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Nguyễn Văn C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.750.000đ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0003579 ngày 11/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án

xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

được tống đạt bản án.

Cỡ chữ