vanban.org

Bản án 53/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Công K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xö ph¹t bÞ c¸o Trƣơng Công K 18 (Mười tám) th¸ng tï. Thêi h¹n chấp hành hình phạt tï tÝnh tõ ngµy bị bắt, tạm giữ 18/06/2019. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "khoa - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Công K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 53/2019/HSST
Ngày 25 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Công Hiến

Ông Đinh Duy Quyết

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Diệu - Kiểm sát viên

Ngày 25/9/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2019/HSST ngày 01/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

* Trƣơng Công K (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1987; tại xã T, huyện L, tỉnh H; trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công K vµ bµ Phạm Thị Ân; vî Hoàng Thị H, sinh năm 1990; và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012

TiÒn ¸n: Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2016/HSST, ngày 15/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xử phạt 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 08/2/2018.

Tiền sự: Quyết định số 92/QĐXP ngày 14/1/2019, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính phạt Cảnh cáo về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Nhân thân: Quyết định số 4221/QĐ-UBND ngày 12/6/2012, cuả Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh H đưa vào Trung tâm chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội Hà Nam thời hạn 24 tháng. Ngày 13/6/2014, K chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/06/2019, chuyển tạm giam ngày 21/06/2019 tíi nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Ngƣời có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trƣơng Công K; sinh n¨m 1945; trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh H; (Có mặt tại phiên tòa).

* Ngƣời làm chứng:

Anh Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1977. Vắng mặt tại phiên tòa.

Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1971. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trương Công K là người sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 18/6/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35F4-**** đi từ nhà đến thành phố P, tỉnh H để tìm mua ma túy. Khi đi đến vườn hoa thành phố P, K gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đang ngồi trên xe mô tô không rõ biển kiểm soát, K đưa cho người đàn ông này 300.000 đồng và nhờ người đàn ông này mua hộ ma túy đá. Người đàn ông đàn ông đồng ý và điều khiển xe mô tô đi khoảng 30 phút thì quay lại đưa cho K 01 túi ni lon màu trắng, miệng túi có viền chỉ màu xanh, kích thước (1,5x2,5)cm, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, xác định đó là ma túy đá, K lấy 50.000 đồng trả công cho người đàn ông. Sau đó, K cầm túi ma túy ở tay trái, rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà Lâm Quốc T, sinh năm 1976, trú tại xóm N, xã G, huyện V, tỉnh N (là bạn K) để rủ T cùng sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đi đến nhà của T, thấy cửa cổng khóa, không có ai ở nhà, nên K dựng xe mô tô và đứng trước cổng đợi. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, thấy Tổ công tác của Công an huyện V phối hợp với Công an xã G đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực, lo sợ bị phát hiện nên K đã dùng tay trái ném túi ma túy xuống đường ngay tại vị trí K đứng, rồi nhảy xuống mương nước cách đó 3m để bỏ chạy, nhưng đã bị Tổ công tác phát hiện, bắt giữ. Thu giữ của K 01 túi nilon màu trắng có kích thước (1,5x2,5)cm, miệng túi có viền chỉ màu xanh, bên trong đựng tinh thể màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, sơn màu nâu biển kiểm soát 35F4-****.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã niêm phong vật chứng là 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các tinh thể màu trắng ký hiệu M, gửi đi giám định trọng lượng và chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 211/KLGĐ-PC09-MT ngày 20/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:

- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1400 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II; số thứ tự 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

- Hoàn lại đối tượng giám định, gồm: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,0582 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-GV ngày 30/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N đã truy tố Trương Công K ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Công K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Trương Công K trong quá trình điều tra và tại phiên tòa trình bày: Ông là bố đẻ của Trương Công K, ông không biết ngày 18/6/2019, Trương Công K lấy xe mô tô biển kiểm soát 35F4-**** của ông để sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy, sau khi vụ án xảy ra ông mới biết. Hiện nay, cơ quan Công an đang giữ xe mô tô biển kiểm soát 35F4-**** của ông và đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô trên, để tiếp tục điều tra, làm rõ và ông không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Công K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Công K từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2019.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 211/KLGĐ-PC09-MT, bên trong, gồm: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,0582 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong, gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2,5)cm trên miệng túi có viền chỉ màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Trương Công K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 18/6/2019, tại khu vực đường trục xóm N, xã G, huyện V, tỉnh N, bị cáo Trương Công K có hành vi cất giấu trái phép 0,1400 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ……..;

b, ……..;

c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Hành vi của bị cáo Trương Công K đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục, cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2016/HSST, ngày 15/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xử phạt 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất Ma túy”; chưa được xóa án tích. Đây là trường hợp tái phạm nên bị cáo Trương Công K phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo Trương Công K có 01 tiền sự;

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly bÞ c¸o ra khái ®êi sèng x· héi mét thêi gian, t ¬ng xøng víi hµnh vi mµ bÞ c¸o ®· g©y ra, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o vµ n©ng cao c«ng t¸c phßng ngõa chung, thÓ hiÖn tÝnh nghiªm minh cña ph¸p luËt.

. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: XÐt b¶n th©n bÞ c¸o Trương Công K lµ ng êi sö dông ma tóy, tàng trữ trái phép chất ma tóy nhằm mục đích sử dụng, không mang tính vụ lợi, kh«ng cã tµi s¶n g× cã gi¸ trÞ, nªn kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ xung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của Trương Công K là 0,1400 gam Methamphetamine. Sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng Methamphetamine còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,0582 gam, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, đã được niêm phong trong phong bì ghi số 211/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong, gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2,5)cm trên miệng túi có viền chỉ màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 35F4-**** thu giữ của Trương Công K. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là do Trương Công K mượn của ông Trương Công K. Xe mô tô ông K mua của một người đàn ông không quen biết tại ven đường quốc lộ 1A, thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam với giá 2.500.000 đồng, không có giấy tờ mua bán xe và không sang tên đổi chủ. Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh N xác định xe mô tô biển kiểm soát 35F4-****, có đăng ký mang tên Quách Văn H, trú tại Phố Ph, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh N, nhưng xác minh không có ai tên Quách Văn H ở địa chỉ nêu trên. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô trên, để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

. Về nguồn gốc số Methamphetamine, bị cáo Trương Công K khai mua của một nam thanh niên tại khu vực vườn hoa thành phố P, tỉnh H vào ngày 18/6/2019. Tuy nhiên, K không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện V không có căn cứ để xác minh làm rõ.

VÒ ¸n phÝ: Bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Bị cáo, ng êi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan cã quyÒn kh¸ng c¸o theo luËt ®Þnh.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Công K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xö ph¹t bÞ c¸o Trƣơng Công K 18 (Mười tám) th¸ng tï. Thêi h¹n chấp hành hình phạt tï tÝnh tõ ngµy bị bắt, tạm giữ 18/06/2019.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 211/KLGĐ-PC09-MT, bên trong, gồm: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,0582 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong theo quy định bên trong, gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (1,5x2,5)cm trên miệng túi có viền chỉ màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. (Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/7/2019, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Trương Công K phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ