vanban.org

Bản án 53/2019/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/02/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Võ Ngọc D phải chịu 200.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể tự ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc D - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Võ Ngọc D phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HSPT
Ngày: 27/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Cường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tào

Ông Nguyễn Tấn Long

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thanh Thủy, Cán bộ Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2019 /TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo VÕ NGỌC D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 80/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

VÕ NGỌC D, sinh ngày 06/5/1974 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn K, xã Q, huyện N1, tỉnh Quảng Nam; Trình độ văn hóa: ..7/12.: Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật Giáo; Con ông Võ Văn H1 (s) và bà Nguyên Thị M (s); gia đình có 03 anh chị em bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Trịnh Thị Yến N (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/4/2018. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Ngọc D theo yêu cầu của Tòa án: Ông Lê Hữu P - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 10 giờ 40 phút ngày 15/4/2018, tại trước Cây xăng HM số 198 đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận L tiến hành kiểm tra hành chính đối tượng Võ Ngọc D. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trong chiếc xe máy hiệu Vision màu xanh BKS 59V2 - 280.XX mà Võ Ngọc D đang điều khiển có 01 gói nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng được bỏ trong gói nilong màu nâu đỏ gói trong chiếc tất màu đen bỏ trong cốp xe nghi là ma túy loại hàng đá, được niêm phong ký hiệu A.

Quá trình điều tra Võ Ngọc D khai nhận: Để có tiền tiêu dùng cá nhân Võ Ngọc D đã tham gia vận chuyển trái phép chất ma túy cho một người tên Cường (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Cụ thể:

Vào chiều tối ngày 13/4/2018, khi đang ngồi tại quán cà phê gần trường trung học phổ thông TB, quận T1, thành phố Hồ Chí Minh thì Cường đến gặp D và nói D mang ma túy từ thành phố Hồ Chí Minh ra thành phố Đà Nẵng để giao cho một người tên Tân (sử dụng số điện thoại 09813099XX, không rõ tên tuổi, địa chỉ) và Tân là người trả tiền công cho D, D nhận một gói ma túy bỏ trong chiếc tất màu đen và bỏ số ma túy vào trong cốp xe máy hiệu Vision màu xanh BKS 59V2 - 280.XX. Đến chiều ngày 14/4/2018, D mang theo xe máy nêu trên đi xe khách đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra thành phố Đà Nẵng, khi đến bến xe Đà Nẵng, D lấy xe chạy đến số 198 đường T, thành phố Đà Nẵng để đổ xăng và điện thoại cho Tân đế giao ma túy và nhận tiền công, nhưng chưa kịp liên lạc với Tân thì bị Công an quận L phát hiện và bắt quả tang, D thừa nhận hành vi phạm tội của mình và lập biên bản thu giữ số ma túy D đang vận chuyển.

Tang vật thu giữ:

- 01 (một) gói nilong bên trong có chứa tinh thể màu trắng được bỏ trong bao nilong màu đỏ, đã được niêm phong theo quy định, ký hiệu A.

- 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0908128059.

- 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Võ Ngọc D.

- 01 (một) xe máy hiệu Vision màu xanh BKS 59V2-280.XX.

- 01 (một) giấy đăng ký xe máy mang BKS 59V2 - 280.XX.

- 01 (một) chiếc tất màu đen.

- 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền Việt Nam.

Kết luận giám định số: 60/GĐ-MT ngày 20/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nilong trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể mẫu A là 43,166gam.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 80/2018/HSST ngày 28/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

1. Căn cứ vào: Điểm b Khoản 3 Điều 250, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Võ Ngọc D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Võ Ngọc D 15 (Mười lăm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/04/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/12/2018, bị cáo Võ Ngọc D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng Toà án cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” là đúng tội danh, đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đau ốm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình có công, phạm tội vì túng quẫn kinh tế... để giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi và tội danh như cấp sơ thẩm xử là đúng, chỉ giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy quá trình điều tra, giải quyết vụ án, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào chiều tối ngày 13/4/2018, tại quán cà phê gần trường trung học phổ thông TB, quận T1, thành phố Hồ Chí Minh, Võ Ngọc D đã nhận vận chuyển 01 gói ma tuý từ một người có tên là Cường để giao cho một người có tên Tân ở thành phố Đà Nẵng để nhận tiền công từ Tân 5.000.000 đồng. Ngày 15/4/2018, khi D đang trên đường giao ma tuý cho Tân thì bị Công an quận L, thành phố Đà Nẵng bắt giữ tại trước cây xăng HM số 198 đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Theo kết luận giám định (BL-10) khối lượng 43,166, loại Methamphetamine.Với hành vi đó, Toà án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo thấy: Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, hoàn cảnh khó khăn, bà nội của bị cáo là bà mẹ Việt Nam anh hùng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự. Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà.

Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại nghị quyết 326/NWQ-UBTVQH K14 về án phí, lệ phí.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào Điểm b khoản 3 Điều 250; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Ngọc D 15 ( mười lăm ) năm tù, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/4/2018.

Bị cáo Võ Ngọc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể tự ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ