vanban.org

Bản án 53/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 05/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Giết người” và tội “Tàng trữ trái phép vũ Q dụng”.

Xử phạt Nguyễn Văn M 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí Q dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chấp hành là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 24/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội " Giết người" năm 2019 - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Giết người” và tội “Tàng trữ trái phép vũ Q dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HS-ST
Ngày 05-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Hà; bà Trịnh Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29/10/2019 và 05/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/TLST-HS, ngày 16 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1978; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Tr nh độ văn hóa: lớp 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Con ông: Nguyễn Văn A (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1935, trú tại tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Anh, chị, em ruột: Có 5 người (bị cáo là con thứ năm trong gia đ nh); Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1984, nghề nghiệp: Làm ruộng, trú tại tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Con: Có 02 đứa (đứa lớn sinh năm 2006, đứa nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Bị khởi tố bị can ngày 26/6/2019, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M:

- Bà Nguyễn Thị Tạo, luật sư Văn phòng luật sư Lê Hùng thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ: Số 363 Nguyễn Du, T phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

* Người bị hại:

1. Ông Nguyễn Trung T, sinh ngày 16/8/1982; địa chỉ: Thôn L T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Nguyễn Anh Q, sinh ngày 13/8/2006; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Anh Q: Ông Trần Văn L, sinh ngày 01/11/1953; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 10/11/1940; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

2. Chị Trần Thị H, sinh ngày 30/4/1984; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Lương Anh V, sinh ngày 09/01/1980; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Anh Nguyễn Phi T, sinh ngày 08/10/1975; địa chỉ: Thôn Bản Huống, xã Châu Hồng, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

3. Anh Đinh Hồng L, sinh ngày 10/10/1974; địa chỉ: Th n 10, xã Sơn Hồng, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

4. Anh Phan Xuân T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

5. Anh Trần Quốc T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Triều Đ ng, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

6. Cháu Nguyễn Thùy T, sinh ngày 20/9/2012; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

7. Cháu Nguyễn Kim N, sinh ngày 26/4/2004; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

Người giám hộ cho cho người làm chứng cháu Nguyễn Thùy T và cháu Nguyễn Kim N: Chị Trần Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7 năm 2016, Nguyễn Văn M trong khi cùng với vợ là chị Trần Thị H giúp dọn đồ tại nhà anh trai là Nguyễn Văn B (đã chết) ở xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì M phát hiện một khẩu súng Q dụng CKC và 56 viên đạn Q dụng nên M lấy về cất giấu trong tủ phía đầu giường tại phòng ngủ của nhà M. Sau khi cất giấu khẩu súng CKC thì vợ, con và cháu Nguyễn Kim N (sinh năm 2004, con gái anh Nguyễn Văn B) đều biết và nhiều lần khuyên can Nguyễn Văn M giao nộp khẩu súng CKC cho cơ quan chức năng nhưng M vẫn cất giấu trong nhà.

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, Nguyễn Văn M gọi điện thoại cho anh Đinh Hồng L, trú tại thôn 10, xã Sơn Hồng, huyện H hỏi việc mua bán gỗ giữa L với anh Nguyễn Trung T, trú tại th n Mai Hà, xã Sơn Trung, huyện H. Sau khi nói chuyện với Nguyễn Văn M thì Đinh Hồng L gọi điện thoại nói cho Nguyễn Trung T biết việc M gọi điện hỏi mua bán gỗ của T với L. Lúc này, Nguyễn Trung T đang điều khiển xe ô tô của mình chở anh trai là Nguyễn Phi T, trú tại bản Huống, xã Châu Hồng, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đi giải quyết việc cá nhân ở thị trấn P, huyện H. Khi nghe anh Đinh Hồng L nói chuyện, Nguyễn Trung T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn M trách móc tại sao lại gọi điện thoại cho L hỏi việc làm ăn của T làm gì nên giữa hai người xẩy ra mâu thuẫn, thách thức lẫn nhau và T nói sẽ đến nhà M để giải quyết mâu thuẫn. Nghe anh T nói vậy nên Nguyễn Văn M đi vào phòng ngủ lấy khẩu súng CKC và lắp khoảng 04 đến 05 viên đạn vào súng, với mục đích nếu T đến nhà đánh m nh th M sẽ dùng súng để bắn T. Lúc đó chị Trần Thị H đi vào can ngăn nên M bỏ lại súng vào trong tủ và đi ra khỏi phòng ngủ. Còn Nguyễn Trung T sau khi gọi điện thoại cho Nguyễn Văn M đã điều khiển xe ô tô chở theo anh Nguyễn Phi T đi đến gần nhà M, T dừng xe ô tô phía ngoài đường nhỏ và đi bộ một mình vào nhà M, còn anh Thường vẫn ngồi trên xe ô tô. Khi Nguyễn Trung T đi vào đến sân nhà thì gặp Nguyễn Văn M và chị Trần Thị H, T hỏi M vì sao chửi T, đồng thời T dùng tay tát một cái vào mặt của M. Do bức xúc vì bị T đánh nên Nguyễn Văn M chạy vào trong phòng ngủ lấy khẩu súng CKC trước đó đã được lắp sẵn đạn để bắn Nguyễn Trung T thì chị H chạy theo can ngăn, giằng co súng với M làm báng súng bằng gỗ tuột ra khỏi súng và rơi trên giường. Sau khi giữ được súng, Nguyễn Văn M lên đạn và do bị cướp cò nên súng nổ làm một phát đạn trúng về phía tủ đựng đồ để đầu giường, đạn xuyên qua tủ, trúng vào cột gỗ ở phòng khách. Nghe thấy tiếng súng nổ thì con trai M là Nguyễn Anh Q (sinh năm 2006) đi vào phòng ngủ, nhìn thấy báng súng trên giường nên Q lấy đưa xuống để ở khu vực nhà bếp. Lúc này ở phía ngoài, Nguyễn Trung T tiếp tục có lời nói thách thức Nguyễn Văn M và nhặt một đoạn gậy gỗ ở vườn nhà M cầm đi ra phía ngoài ngõ.

Sau khi can ngăn Nguyễn Văn M kh ng được thì chị Trần Thị H chạy ra phía ngoài ngõ xem xét t nh h nh để khuyên Nguyễn Trung T đi về, còn M nghĩ anh T đã đi về nên để khẩu súng CKC vào trong tủ rồi đi ra đứng ở cửa nhà và nhìn thấy T trên tay cầm gậy đi từ phía ngoài ngõ vào nhà nên M tiếp tục chạy vào phòng ngủ lấy khẩu súng CKC đi ra đứng trước cửa phòng ngủ. Khi anh Nguyễn Trung T cầm gậy đi vào đến cửa nhà thì cháu Nguyễn Anh Q cũng chạy lại đứng khuất phía sau cánh cửa bằng gỗ, gần vị trí của T nên M không thấy cháu Q. Lúc Nguyễn Văn M nhìn thấy Nguyễn Trung T thì M vẫn đứng trước cửa phòng ngủ, cách nhau khoảng 05m, tầm nhìn không bị che khuất, M cầm súng CKC lên đạn và chĩa nòng súng hướng thẳng về phía người T rồi bóp cò súng nổ, đầu đạn bay xuyên qua cánh cửa bằng gỗ, trúng thấu ngực bụng cháu Nguyễn Anh Q làm Q ngã gục tại chỗ. Biết Nguyễn Văn M dùng súng bắn mình nên anh Nguyễn Trung T cầm gậy bỏ chạy ra ngoài ngõ, M tiếp tục cầm súng CKC đuổi theo bắn thêm một phát về phía T đang bỏ chạy. Sau đó, Nguyễn Văn M được chị H can ngăn và biết cháu Nguyễn Anh Q đã bị thương nên M để súng xuống ở ngõ, rồi quay vào nhà. Lúc đó cháu Nguyễn Thùy T (sinh năm 2012, con gái M) lấy khẩu súng CKC đưa vào để ở trong tủ nh m kính, dưới chân giường trong phòng ngủ của gia đ nh. Lúc này, anh Phan Xuân T (trú tại tổ dân phố 12, thị trấn P, Hương Sơn) đi đến và nghe tiếng ồn ào nên vào nhà Nguyễn Văn M cùng với mọi người đưa cháu Nguyễn Anh Q đến Bệnh viện đa khoa huyện H và Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An cứu chữa từ ngày 24/6/2019 đến ngày 08/7/2019 thì ra viện.

- Tại biên bản khám xét nhà ở của Nguyễn Văn M, tại tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H lập vào hồi 20 giờ 25 phút ngày 24/6/2019, phán ánh thu giữ: 01 vỏ đạn bằng kim loại, dài 3,7cm, trên sàn nhà phía bên phải cửa ra vào phòng ngủ; 01 túi ni lông bên trong có 01 túi vải màu nâu đựng 51 viên đạn bằng kim loại, dài 5,5cm, trong ngăn tủ phía đầu giường, trong phòng ngủ; 01 khẩu súng bằng kim loại, kh ng có báng súng, dài 74 cm, súng đang được gắn hộp tiếp đạn, trong tủ nh m kính phía dưới chân giường, trong phòng ngủ; mở hộp tiếp đạn của súng phát hiện bên trong có 01 viên đạn bằng kim loại, dài 5,5cm; kiểm tra buồng đạn của súng phát hiện có 01 vỏ đạn bằng kim loại, dài 3,7cm; 01 báng súng bằng gỗ, chiều dài 75cm, tại bàn gỗ đặt bếp ga trong phòng bếp.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, phản ánh: Hiện trường vụ án được xác định tại khu vực nhà Nguyễn Văn M, tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H. Phía Bắc giáp khu vực ruộng Cây Sông, phía Nam tiếp giáp vườn của gia đ nh ng Nguyễn Văn S, phía Đ ng tiếp giáp với nhà bà Nguyễn Thị N, phía Tây tiếp giáp với tường rào nhà bà Hồ Thị K. Nhà ở của Nguyễn Văn M có chiều dài 9,3m, rộng 7,5m, được bố trí gồm 2 gian (phía Tây và phía Đ ng), kh ng ngăn cách, được thưng kín bao quanh bằng ván gỗ, ngôi nhà có hai cửa chính ở mặt phía Bắc và một cửa nách ở góc nhà phía Đ ng Bắc. Tại cột nhà ở góc phía Tây Nam, gian nhà phía Tây cách mặt đất 1,13m phát hiện 01 vết lõm, kích thước 14cmx5,8cm. Tại mặt gương của tủ gỗ đựng đồ góc phía Đ ng Nam, giữa hai gian nhà, cách mặt đất 1,16m, phát hiện 01 vết nứt thủng, kích thước 43cmx50cm, trong đó lỗ thủng có kích thước 2,5cmx3,5cm. Tại vị trí mặt sau tủ gỗ cách mép tủ phía Bắc 90cm, cách mặt đất 1,2m, phát hiện dấu vết thủng gỗ kích thước 4,5cmx7,5cm, lỗ thủng có đường kính 0,6cm chiều hướng từ Đ ng sang Tây. Tại sàn nhà cửa chính phía Đ ng, gian nhà phía Đ ng phát hiện 01 vùng chất nhầy màu đỏ (nghi máu) có kích thước 60cmx37cm, tâm vùng dấu vết cách mép thềm phía Bắc 42cm, cách mép nhà phía Đ ng 2,8m. Cách vị trí vùng chất nhầy màu đỏ 16cm về phía Bắc trên sàn thềm phát hiện 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung, màu vàng. Cửa chính ra vào gian nhà phía Đ ng được làm bằng gỗ, gồm có 2 cánh, đều kích thước 80cmx2,55m, tại mặt trong mạ cánh cửa phía Đ ng, phát hiện 01 lỗ thủng kích thước 0,7cmx1,7cm, cách mặt đất 1,12m, chiều hướng chéo từ trong ra ngoài; mặt ngoài ván cánh cửa có 01 lỗ thủng kích thước 0,7cmx1,6cm, cách mặt đất 111cm, chiều hướng từ trong ra ngoài. Tại mặt ngoài cánh cửa cách mặt đất 20cm, cách mép cửa hướng bản lề 38cm có dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) kích thước 7cmx5,5cm. Trên góc dưới cùng hướng bản lề cánh cửa phía Đ ng (gian nhà phía Tây) có 01 đầu đạn, bị móp méo, dài 2,5cm. Cách mép sân nhà phía Tây về phía Tây 1,56m, cách góc nhà phía Tây Bắc về phía Tây Bắc 4,48m (đo chéo), có 01 đầu đạn, dài 2,75cm. Cách góc phía Đông Bắc tường rào nhà bà Hồ Thị Khuyến 1,65m, cách mép sân phía Bắc 12,8m, có 01 viên đạn bằng kim loại, dài 5,5cm. Cách viên đạn 2,75m về phía Đông và cách mép sân phía Bắc 12,77cm có 01 vỏ đạn bằng kim loại, dài 3,7cm. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ mẫu chất nhầy màu đỏ (nghi máu) và các đầu đạn, viên đạn, vỏ đạn nói trên.

- Bản kết luận giám định số 14 ngày 10/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Chất màu đỏ nghi máu (đã chuyển T màu nâu) - ký hiệu A mà Cơ quan điều tra đã thu giữ tại sàn nhà của Nguyễn Văn M khi khám nghiệm hiện trường vụ án là máu người, thuộc nhóm máu O trong hệ nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của Nguyễn Anh Q, sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố 10, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bản kết luận giám định số 3783 ngày 25/7/2019 của Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công an, kết luận: 01 báng súng và 01 thân súng gửi đến giám định lắp ráp lại T 01 khẩu súng Q dụng CKC, thuộc vũ khí Q dụng; 53 viên đạn, 03 vỏ đạn và 02 đầu đạn gửi đến giám định là đạn, vỏ đạn và đầu đạn của loại đạn Q dụng cỡ 7,62x39mm, thuộc vũ khí Q dụng, sử dụng bắn được cho các loại súng Q dụng như: AK, CKC, RPK…; 03 vỏ đạn và 02 đầu đạn gửi giám định là do khẩu súng Q dụng CKC nêu trên bắn ra.

* Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản như sau:

- Nhập kho vật chứng của Bộ chỉ huy Q sự tỉnh Hà Tĩnh:

+ 01 (một) thân súng CKC, dài 74cm;

+ 01 (một) báng súng bằng gỗ, dài 75cm;

+ 43 (bốn mươi ba) viên đạn, đều có chiều dài 5,5cm (ngoài ra còn có 10 viên đạn đã sử dụng trong quá tr nh giám định);

+ 03 (ba) vỏ đạn có ký hiệu lần lượt là: “14 38”; “270 73”; 31 72”;

+ 02 (hai) đầu đạn bị biến dạng có chiều dài 2,5cm và 2,75cm.

- Nhập kho vật chứng của Công an tỉnh Hà Tĩnh: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số IMEI 355862/01/623178/3.

- Trả lại cho cháu Nguyễn Anh Q 01 chiếc điện thoại di động Sam Sung, màu vàng.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Trung T, cháu Nguyễn Anh Q và ông Trần Văn L (người giám hộ cho cháu Nguyễn Anh Q) không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường.

Với hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 59 /CT-VKS-P2 ngày 11 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí Q dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 55, Điều 58 BLHS xử phạt Nguyễn Văn M từ 07 đến 08 năm tù về tội “Giết người” và từ 01 đến 01năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí Q dụng” ; Tổng hợp chung hình phạt cho hai tội từ 08 đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh cũng như nhân thân bị cáo, xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về sửa chữa lỗi lầm của m nh để trở T người có ích cho xã hội.

Bị cáo không tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra C ng an tỉnh Hà Tĩnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng h nh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng kh ng có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại g về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh đúng như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và lời khai của người làm chứng, cũng như các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, những lời khai và các chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng tháng 7 năm 2016, khi Nguyễn Văn M đến dọn đồ tại nhà anh trai là Nguyễn Văn B (đã chết) ở xã Sơn Hồng, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện và tự lấy 01 khẩu súng Q dụng CKC cùng một chiếc túi đựng 56 viên đạn Q dụng đưa về cất giữ trong tủ tại phòng ngủ của gia đ nh. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 24/6/2019, Nguyễn Văn M biết Nguyễn Trung T sẽ đến nhà m nh để giải quyết mâu thuẫn nên M đi vào phòng ngủ lấy khoảng 4 đến 5 viên đạn lắp vào súng CKC nhằm mục đích để bắn T nếu T đánh M nhưng được vợ là chị Trần Thị H can ngăn nên M cất súng vào tủ và đi ra khỏi phòng ngủ. Một lúc sau, Nguyễn Trung T đi đến, giữa T với M xảy ra cãi cọ nhau và T đã dùng tay tát một cái vào mặt M. Bức xúc do bị T đánh nên Nguyễn Văn M chạy vào phòng ngủ mở tủ lấy súng CKC để bắn T, mặc dù chị Trần Thị H tiếp tục can ngăn nhưng Nguyễn Văn M cầm súng lên đạn làm súng cướp cò, đạn xuyên qua tủ và trúng vào cột nhà. Nghe tiếng súng nổ, Nguyễn Trung T lấy một cái gậy tại vườn và có lời nói thách thức với M đồng thời đi ra ngoài ngõ. Thấy Nguyễn Trung T đã đi về nên Nguyễn Văn M để khẩu súng CKC vào trong tủ rồi đi ra đứng ở cửa nhà. Sau đó thấy Nguyễn Trung T tiếp tục cầm gậy đi vào nhà M nên M chạy vào phòng ngủ lấy khẩu súng CKC đi ra đứng trước cửa phòng ngủ, rồi lên đạn và chĩa nòng súng hướng về phía người T bóp cò, súng nổ, đầu đạn bay xuyên qua cánh cửa bằng gỗ, trúng thấu ngực bụng cháu Nguyễn Anh Q (con trai M) đang đứng khuất phía sau cánh cửa. Lúc này Nguyễn Trung T bỏ chạy ra ngoài đường, Nguyễn Văn M tiếp tục cầm súng đuổi theo và bắn một phát về phía T nhưng kh ng trúng. Sau đó, Nguyễn Văn M để súng xuống tại ngõ và chạy vào nhà cùng với những người khác đưa cháu Nguyễn Anh Q đi bệnh viện cứu chữa.

Bị cáo Nguyễn Văn M nhận thức được loại súng mình tàng trữ là súng CKC, sử dụng trong Q đội, việc tàng trữ là vi phạm pháp luật, mặc dù đã được vợ khuyên nộp cho cơ quan chức năng nhưng vẫn tàng trữ trong nhà.

Hành vi của Nguyễn Văn M sử dụng súng Q dụng với động cơ, mục đích nhằm vào Nguyễn Trung T để bắn, tuy nhiên không gây hậu quả cho T mà gây hậu quả làm cháu Nguyễn Anh Q (con trai bị cáo) bị thương, cháu Q từ chối giám định tỷ lệ thương tích. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng vũ khí Q dụng để bắn có khả năng gây sát thương cao nguy hiểm tính mạng người khác, mặc dù đã được vợ tích cực can ngăn nhưng vẫn cố tình sử dụng súng, việc không bắn trúng Nguyễn Trung T là ngoài ý muốn của bị cáo. Trước đó, khi nghe điện thoại thách thức nhau bị cáo cũng đã chuẩn bị súng, lắp đạn vào súng để nếu T đến nhà gây sự sẽ bắn T giải quyết mâu thuẫn.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý vũ khí của nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Vì vậy, Cáo trạng số 59/CTr – KSĐT, ngày11 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ vũ khí Q dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật nhưng v mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn T, bị cáo không kiềm chế bản thân mà đã có hành vi dùng súng bắn vào anh Nguyễn Văn T nhưng hậu quả lại bắn trúng vào cháu Nguyễn Anh Q, gây thương tích cho cháu Q. Trong vụ án này có một phần lỗi của người bị hại anh Nguyễn Trung T, T chủ động gọi điện cho Nguyễn Văn M và trực tiếp đến nhà M gây sự, đánh M trước. Sau khi được mọi người can ngăn M đã cất súng thì T tiếp tục cầm gậy vào nhà M để gây sự dẫn đến M mới cầm súng để bắn T. Về hành vi này, người bị hại Nguyễn Trung T cũng đã bị cơ quan C ng an ra quyết định xử phạt hành chính phạt tiền.

Bị cáo M động cơ, mục đích dùng súng bắn Nguyễn Trung T, tước đoạt mạng sống của T tuy nhiên chưa gây hậu quả cho T vì nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15, Điều 57 BLHS.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá tr nh điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã T khẩn khai báo; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra; người bị hại cũng có một phần lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố, mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị N là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, hàng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Trung T, cháu Nguyễn Anh Q và ông Trần Văn L (người giám hộ cho cháu Nguyễn Anh Q) không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường nên miễn xét.

Liên quan trong vụ án còn có:

- Đối với chị Trần Thị H là vợ của Nguyễn Văn M biết việc Nguyễn Văn M tàng trữ trái phép vũ khí Q dụng và đã nhiều lần khuyên can giao nộp cho cơ quan chức năng nhưng M không thực hiện. Do vậy, hành vi của Trần Thị H chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Đối với người bị hại Nguyễn Trung T, đã có hành vi đến nhà gây gỗ và đánh Nguyễn Văn M. Tuy nhiên, sự việc này chưa gây ồn ào, náo loạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình hình an ninh chính trị, trật tự trị an, nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Trung T về hành vi “Đánh nhau” theo Nghị định 167/NĐ-CP/2013 của Chính phủ.

- Ngoài ra, quá tr nh điều tra vụ án bà Nguyễn Thị N (mẹ Nguyễn Văn M) trình bày trong quá trình xẩy ra sự việc đánh nhau giữa Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Trung T thì bà Nhung bị đánh gây xây xước ở da ở gò má phải. Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị N khai không biết ai là người đã đánh m nh và không có người nào thấy bà Nhung bị đánh. Hiện nay, bà Nguyễn Thị N sức khỏe yếu do tuổi cao, bệnh tật nên không thể làm việc. Do đó, kh ng có cơ sở để xem xét nội dung này trong vụ án.

Về vật chứng:

Các vật chứng mà bị cáo đã sử dụng trong quá trình phạm tội nên cần tịch thu chuyển cho Bộ chỉ huy Q sự tỉnh Hà Tĩnh xử lý theo quy định pháp luật gồm: 01 (một) thân súng CKC, dài 74cm; 01 (một) báng súng bằng gỗ, dài 75cm; 43 (bốn mươi ba) viên đạn, đều có chiều dài 5,5cm (đã trừ 10 viên đạn đã sử dụng trong quá tr nh giám định); 03 (ba) vỏ đạn có ký hiệu lần lượt là: “14 38”; “270 73”; 31 72”; 02 (hai) đầu đạn bị biến dạng có chiều dài 2,5cm và 2,75cm.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số IMEI 355862/01/623178/3.

Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí theo quy định.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 2 Điều 123; khoản 1 Điều 304, điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57, Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Giết người” và tội “Tàng trữ trái phép vũ Q dụng”.

Xử phạt Nguyễn Văn M 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí Q dụng”.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chấp hành là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 24/6/2019.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu chuyển cho Bộ chỉ huy Q sự tỉnh Hà Tĩnh xử lý theo quy định pháp luật gồm: 01 (một) thân súng CKC, dài 74cm; 01 (một) báng súng bằng gỗ, dài 75cm; 43 (bốn mươi ba) viên đạn, đều có chiều dài 5,5cm; 03 (ba) vỏ đạn có ký hiệu lần lượt là: “14 38”; “270 73”; 31 72”; 02 (hai) đầu đạn bị biến dạng có chiều dài 2,5cm và 2,75cm. Tình trạng vật chứng có tại Lệnh nhập kho ngày 07/8/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Bộ chỉ huy Q sự tỉnh Hà Tĩnh.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, số IMEI 355862/01/623178/3.Tình trạng vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2019 giữa Cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về án ph : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Pháp lệnh 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người bị hại, người đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ