vanban.org

Bản án 53/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 02/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đặng Hùng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đặng Hùng V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2019. Tuyên bố: Cao Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đặng Hùng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THUỶ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HS-ST
Ngày: 02/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Văn Nhân.

2/ Ông Nguyễn Việt Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phƣơng - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dƣơng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận BT, thành phố CT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: ĐẶNG HÙNG V, sinh năm 1993. Nơi sinh: CT; nơi cư trú: 162B/5, khu vực 1, phường AB, quận NK, thành phố CT; Chỗ ở như trên; nghề nghiệp: Làm hồ; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Tấn H, sinh năm 1957 (sống) và Trần Thị Th, sinh năm 1959 (sống); Vợ: Lê Huỳnh Tường V, sinh năm 1995, con 01 người, sinh năm 2015;

Tiền sự: 01 lần: Ngày 21/02/2019 bị Tòa án nhân dân quận NK, TP CT đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/04/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an quận BT, thành phố CT.

2. Họ và tên: CAO TRUNG H (H nhỏ), sinh năm 1999; Nơi sinh: CT; nơi cư trú: 585/11 khu vực BA, phường LH, quận BT, thành phố CT; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: làm hồ; Trình độ học vấn: 04/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Tấn Ph, sinh năm: 1970 ( sống) và bà Nguyễn Thị Thu H (sống), bị cáo chưa có vợ con.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

*Người bị hại: Ông Hồ Quang V, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số 152/80, đường HV, phường TB, quận NK, thành phố CT. (Vắng mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thiện Th, sinh năm 1988.

Địa chỉ: 25/14 khu vực 5, phường HL, quận NK, thành phố CT. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 05 giờ ngày 27/01/2019 Đặng Hùng V điện thoại cho Cao Trung H rủ đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, H đồng ý. Sau đó Đặng Hùng V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 95E1- 236.74 từ nhà của V tại khu vực 1, phường AB, quận NK, thành phố CT đến nhà của Cao Trung H thuộc khu vực Bình An, phường Long Hòa, quận BT, thành phố CT để đón H. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở H đi lòng vòng trong khu Khôi Nguyên thuộc phường Long Hòa, quận BT, thành phố CT để tìm tài sản lấy trộm, khi chạy ngang qua dãy nhà trọ Minh Thông thuộc khu vực Bình Nhựt, phường Long Hòa, quận BT, thành phố CT thì V phát hiện phòng trọ số 04 do anh Hồ Quang V đang thuê, khóa ổ khóa ngoài nên V dừng xe ở gần đó và đi đến cửa phòng quan sát còn H ngồi ngoài xe canh chừng, lúc này V thấy phòng trọ số 03 có người sợ bị phát hiện nên V nhặt dây chì ở gần đó cột cánh cửa phòng số 03 lại, sau đó V nhặt 01 khúc sắt dài khoảng 30 cm để cạy ổ khóa phòng trọ số 04. Sau khi cạy hư ổ khóa, V mở cửa phòng đi vào bên trong V thấy có chiếc ti vi đặt ở trên gác nên V đi ra ngoài kêu H đi vào phòng trọ lấy ti vi mang ra xe mô tô. Sau khi lấy được ti vi, V điều khiển xe mô tô chở H về nhà H cất giấu ti vi. Đến khoảng 16 giờ ngày 27/01/2019 V điện thoại cho Trần Thiện Th kêu Th qua nhà H chở H và cái ti vi qua quán cà phê gần nhà V. Khi Th đang điều khiển xe mô tô biển số 65B- 010.40 chở H cùng cái ti vi qua chỗ V thì bị lực lượng tuần tra phát hiện. Vật chứng thu giữ: 01 ti vi LCD Sony KLV- 40R452A, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEL 359007094470921 đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 1.226.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 95E1- 236.74; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 65B- 010.40.

Quá trình điều tra Đặng Hùng V, Cao Trung H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/BKL-HĐĐG ngày 25/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận BT kết luận: giá trị còn lại của ti vi nhãn hiệu Sony loại Led màn hình 42 inch màu đen bị trộm là 3.500.000 đồng.

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 95E1- 236.74 là do bà Nguyễn Thị Phúc đăng ký tên chủ xe nhưng đã bán lại cho ông Đặng Tấn H (là cha của V) để quản lý và sử dụng, việc V sử dụng xe này để đi trộm cắp tài sản thì ông Hưng không biết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận BT, thành phố CT xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 65B1- 010.40 loại xe màu xanh đen, số máy: JF18E5289173, số khung: 180X8Y684811, Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 95E1- 236.74; Trả 01 ti vi LCD sony KLV – 40R452A màu đen cho các chủ sở hữu.

Đối với Trần Thiện Th có qua chở Cao Trung H và cái ti vi nhưng Th không biết ti vi đó là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Th.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSBT ngày 12/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT đã truy tố các bị cáo Đặng Hùng V, Cao Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

Bị cáo Đặng Hùng V, Cao Trung H khai nhận, do muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cùng nhau đi tìm tài sản trộm cắp. Các bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, các bị cáo đã ăn năn, hối cải. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố CT vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của các bị cáo V, H thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 tuyên bị cáo V từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù giam; áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 tuyên bị cáo H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Đã trả lại tài sản là ti vi cho bị hại, tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imel 359007094470921 đã qua sử dụng của Cao Trung H, tiền Việt Nam là 1.226.000 đồng của Đặng Hùng V đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo V, H tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định lúc 05 giờ ngày 27/01/2019, V điện thoại cho H rủ H đi tìm tài sản trộm cắp, khi đến nhà trọ Minh Thông thuộc khu vực Bình Nhựt, phường Long Hòa, quận BT, thành phố CT thì V phát hiện phòng trọ số 04 do anh Hồ Quang V đang thuê, khóa ổ khóa ngoài nên V đã lẻn vào phòng trọ trộm chiếc tivi LCD Sony KLV-40R452A, màu đen. Khi bị cáo H đem tài sản đi tiêu thụ thì bị bắt cùng tang vật. Theo kết luận định giá tài sản số 14/BKL-HĐĐG ngày 25/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận BT kết luận: giá trị còn lại của ti vi nhãn hiệu Sony loại Led màn hình 42 inch màu đen bị trộm là 3.500.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận BT truy tố bị cáo V, H về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Đặng Hùng V, Cao Trung H là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì không muốn lao động mà lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo V đã rủ bị cáo H lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm. Bị cáo V trong vụ án là người chủ mưu và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên việc bàn bạc của V và H chỉ là giản đơn, không phải là phạm tội có tổ chức nên các bị cáo chỉ bị truy tố theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt thì hình phạt bị cáo V sẽ cao hơn bị cáo H, còn bị cáo H cũng đồng phạm về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã trực tiếp vào lấy ti vi và đem về nhà cất giấu đến chiều khi đang trên đường đem tài sản đi tiêu thụ thì bị bắt nên cũng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo V có một tiền sự buộc phải đi cai nghiện ma túy nay lại tiếp tục phạm tội nên cần có một mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Bị cáo H tuổi đời còn trẻ nhưng không chăm lo làm ăn, phụ giúp gia đình mà lại cùng đồng bọn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cũng cần có một mức án nghiêm khắc để giáo dục.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V, H đều có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng là tivi đã trả lại cho bị hại, tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imel 359007094470921 đã qua sử dụng của bị cáo H dùng để liên lạc với bị cáo V để đi thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tịch thu sung công, tiền Việt Nam là 1.226.000 đồng của bị cáo V do không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có thu nhập ổn định.

Các Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Đặng Hùng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Đặng Hùng V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2019.

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Cao Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Cao Trung H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng là tivi nhãn hiệu Sony đã trả lại cho bị hại, tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imel 359007094470921 đã qua sử dụng của bị cáo Cao Trung H.

Trả lại cho bị cáo Đặng Hùng V số tiền 1.226.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo V, H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để xin Tòa án nhân dân thành phố CT xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ