vanban.org

Bản án 53/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 25/02/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/02/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HS-PT
Ngày: 25-02-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các thẩm phán: Ông Tô Phú Đông

Ông Ngô Tấn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Th ký T a n nh n d n tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Tràng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 2 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc th m thụ lý số: 27/2019/TLPT-HS ngày 07 th ng 01 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Thị L. Do có kháng cáo của bị c o đối với bản án hình sự sơ th m số: 46/2018/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm: 1974; Nơi c trú: Ấp Mỹ H, xã Tân H1, huyện Phú T, tỉnh An G; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: Không biết chữ, Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nữ; Tôn gi o: Không; uốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị , sinh năm: 1956; có chồng Nguyễn Văn P, sinh năm: 1973 và con Nguyễn Thị P1, sinh năm: 1995, Nguyễn Văn N, sinh năm 2005; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không. Hiện bị c o đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi c trú số 32 ngày 15/10/2018 của Cơ quan cảnh s t Điều tra Công an huyện Thanh Bình và có m t tại phiên t a

Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG V N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ n đ ợc tóm tắt nh sau:

Bị c o Nguyễn Thị L làm nghề b n vé số. Khoảng th ng 4/2018, L quen biết với bị hại Nguyễn Văn H2 Đến đầu th ng 9/2018, bị c o L đến ở chung nhà với ông H2 (chỉ ở ban ngày) Thời gian này, L biết ông H2 th ờng cất giấu vàng trong túi quần ho c trong bóp da. Sau đó, L và ông H2 xảy ra m u thuẫn nên nảy sinh ý định trộm tài sản của ông H2.

Khoảng 17h ngày 21/9/2018, ông H2 đi đến nhà của ông Lê Thanh T1 ngụ cùng ấp để uống r ợu thì L đã lén lút lấy 03 chiếc nhẫn đeo tay của ông H2 gồm: 01 chiếc m t hình chữ nhật, trên m t có chữ JVC, loại vàng 9999, trọng l ợng 05 chỉ; 01 chiếc nhẫn (loại nhẫn trơn), m t trong có chữ Ngọc Lợi, loại vàng 24kara, trọng l ợng 05 chỉ và 01 chiếc nhẫn loại nhẫn trơn vàng 24kara, trọng l ợng 02 chỉ đ ợc ông H2 cất giấu trong túi quần dài vải kaki, màu x m, mắc trên v ch nhà bên phải gần cửa nhà sau Bị c o L cất giấu tài sản trộm đ ợc vào trong túi tr ớc của chiếc quần thun, sọc trắng đen đang m c, rồi đi bộ về h ớng bến đ T n H ng, địa phận ấp T n Phong, xã T n Huề. Trên đ ờng đi, bị c o g p ông Trần Văn M nên hỏi m ợn điện thoại di động của ông M để điện thoại kêu anh Nguyễn Văn P (chồng bị c o) đến r ớc Khi qua đ , bị c o L đi đến khu vực thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú T n, tỉnh An Giang, lúc này khoảng 20 giờ cùng ngày thì anh P chạy xe mô tô (không rõ biển số) đến chở L về nhà Trên đ ờng đi, L lấy 01 chiếc nhẫn vừa trộm đ ợc đeo vào tay của anh P, chiếc c n lại thì đeo vào tay của bị c o L. Sáng ngày 22/9/2018, do không biết nguồn gốc của chiếc nhẫn trên nên P trả lại cho bị c o, bị c o L mang 02 chiếc nhẫn đi cất giấu

Khoảng 19h ngày 21/9/2018, ông H2 về nhà thì ph t hiện bị mất trộm tài sản nêu trên nên trình b o đến cơ quan Công an Đến khoảng 11h20 phút ngày 22/9/2018, Cơ quan Cảnh s t Điều tra Công an huyện Thanh Bình mời bị c o L đến làm việc. Tại đ y, bị c o L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình Trong lúc đi bộ ra bến đ bị c o đã đ nh rơi 01 chiếc nhẫn trơn vàng 24kara, trọng l ợng 02 chỉ, hiện nay không tìm đ ợc, chỉ c n lại 02 chiếc nhẫn trọng l ợng 10 chỉ

Tại Bản kết luận định gi tài sản số 51/KL-HĐ ngày 01/10/2018 của Hội đồng định gi tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Bình, kết luận :

- 01 chiếc nhẫn m t hình chữ nhật, trên m t có chữ JVC, loại vàng 9999, trọng l ợng 05 chỉ, gi trị 16 800 000đ (05 chỉ x 3.360 000đ);

- 01 Chiếc nhẫn trơn, m t trong nhẫn có chữ Ngọc Lợi, loại vàng 24kara, trọng l ợng 05 chỉ, gi trị 16 300 000đ (05 chỉ x 3 260 000đ);

- 01 chiếc nhẫn trơn, loại vàng 24kara, trọng l ợng 02 chỉ, trị gi 6 520 000đ (02 chỉ x 3 260 000đ) ;

Tổng gi trị tài sản bị chiếm đoạt là 39 620 000 đồng.

Về vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (Một) sợi d y chuyền kim loại màu vàng (vàng giả), chiều dài 60cm của bị c o L nên đã trả lại cho bị c o L.

- 01 (Một) chiếc nhẫn m t hình chữ nhật, trên m t có chữ JVC, loại vàng 9999, trọng l ợng 05 chỉ; 01 (Một) Chiếc nhẫn trơn, m t trong nhẫn có chữ Ngọc Lợi, loại vàng 24kara, trọng l ợng 05 chỉ của bị hại H2 nên đã trả lại cho ông Nguyễn Văn H2.

Về tr ch nhiệm d n sự: Ông Nguyễn Văn H2 đã nhận lại 02 chiếc nhẫn vàng (trọng l ợng mỗi chiếc là 05 chỉ) C n chiếc nhẫn trơn, vàng 24kara, trọng l ợng 02 chỉ, bị c o L khai đã đ nh rơi khi đi từ nhà ông H2 đến bến đ T n H ng không truy tìm đ ợc. Ông H2 không yêu cầu bị c o bồi th ờng và có đơn xin miễn tr ch nhiệm hình sự cho bị c o L.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2018/HS-ST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06 th ng 12 năm 2018, bị c o Nguyễn Thị L có đơn kh ng c o với nội dung xin giảm nh hình phạt

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát ph t biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L bị T a n cấp sơ th m quy kết về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội và đúng quy định của ph p luật ét mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ th m tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nh hình phạt và đ ợc h ởng n treo nh ng không cung cấp thêm đ ợc tình tiết nào mới có cơ sở để xem xét cho bị cáo ngoài các tình tiết giảm nh đã đ ợc Tòa án cấp sơ th m xem xét, giải quyết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị c o Nguyễn Thị L về việc xin giảm nh hình phạt và đ ợc h ởng án treo, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ th m.

Trong phần tranh luận bị cáo Nguyễn Thị L không có tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên mà chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo đ ợc h ởng án treo.

NH N Đ NH CỦA T A N:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào c c tài liệu trong hồ sơ vụ n đã đ ợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

[1] Tại phiên tòa phúc th m, bị cáo Nguyễn Thị L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ n, đủ cơ sở để x c định: Khoảng 17h ngày 21/9/2018, lợi dụng lúc ông H2 đi đến nhà của ông Lê Thanh T1 để uống r ợu thì bị cáo L đã lén lút lấy 03 chiếc nhẫn đeo tay của ông H2 gồm: 01 chiếc m t hình chữ nhật, trên m t có chữ JVC, loại vàng 9999, trọng l ợng 05 chỉ; 01 chiếc nhẫn (loại nhẫn trơn), m t trong có chữ Ngọc Lợi, loại vàng 24kara, trọng l ợng 05 chỉ và 01 chiếc nhẫn loại nhẫn trơn vàng 24kara, trọng l ợng 02 chỉ. Tổng giá trị tài sản mà bị c o đã chiếm đoạt là 39.620.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến tài sản thuộc sở hữu của ng ời khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã g y xôn xao d luận, g y hoang mang trong d luận quần chúng nhân dân, làm ảnh h ởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa ph ơng nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là ng ời đã tr ởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản th n Nh ng vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên bị c o đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn H2 với tổng giá trị tài sản là 39.620.000 đồng. Bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ng ời khác là vi phạm pháp luật, là có tội nh ng bị cáo vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành

[3] Tòa án cấp sơ th m đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng ph p luật. Mức hình phạt mà n sơ th m đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị c o g y ra và đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng nh các tình tiết giảm nh cho bị c o Bị c o L kh ng c o xin đ ợc giảm nh hình phạt và đ ợc h ởng án treo nh ng tại phiên tòa bị c o không xuất trình đ ợc những tình tiết mới ngoài các tình tiết mà n sơ th m đã xem xét Nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giữ nguyên quyết định của bản n sơ th m về hình phạt.

[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo L là có cơ sở, phù hợp pháp luật, nên đ ợc Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Do kh ng c o của bị c o L không đ ợc chấp nhận, nên bị c o phải chịu n phí hình sự phúc th m Tuy nhiên, do gia đình bị c o có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thuộc diện hộ cận nghèo nên bị c o đ ợc miễn nộp tiền n phí hình sự phúc th m.

Các phần khác của quyết định bản n sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Không chấp nhận kh ng c o xin giảm nh hình phạt và đ ợc h ởng án treo của bị c o Nguyễn Thị L Giữ nguyên quyết định bản n sơ th m về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

C c phần kh c của quyết định bản n sơ th m không có kh ng c o, kh ng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị

Về n phí: Bị c o Nguyễn Thị L không phải chịu n phí hình sự phúc th m

Bản n phúc th m có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n.

Cỡ chữ