vanban.org

Bản án 53/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Tùng C về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Y được ly hôn đối với ông Nguyễn Tùng C. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Y được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hồng Đức, sinh ngày 24/02/2004 và Nguyễn Hồng Phúc, sinh ngày 14/11/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hồng Y-Ông Nguyễn Tùng C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Tùng C về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09-8-2019
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Minh Lý;

2. Ông Nguyễn Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 90/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Y, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số H660/81, Tổ 81, Khu phố 9, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tùng C, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số H660/81, Tổ 81, Khu phố 9, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2019 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hồng Y và ông Nguyễn Tùng C là vợ chồng, kết hôn vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164 ngày 22/10/2003. Quá trình chung sống, bà Y và ông C có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồng Đức, sinh ngày 24/02/2004 và cháu Nguyễn Hồng Phúc, sinh ngày 14/11/2014. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông C có hành vi bạo lực gia đình với bà Y, bà Y đã từng nộp đơn ra Toà án nhưng vì con nên bà Y rút đơn để cho ông C cơ hội để thay đổi nhưng ông C vẫn không thay đổi, vẫn có hành vi bạo lực gia đình. Bà Y nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tùng C. Sau khi ly hôn thì bà Y yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Tùng C: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Tùng C không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không gửi ý kiến bằng văn bản phản đối yêu cầu ly hôn, nuôi con theo yêu cầu của bà Y. Tòa án ban hành và tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông C cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa xét xử vắng mặt bị đơn.

Ngày 30/7/2019, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y có đơn xin giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi hay bổ sung yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa có ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì về phần thủ tục. Về nội dung, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y khởi kiện tranh chấp yêu cầu được ly hôn với bị đơn Nguyễn Tùng C. Bị đơn ông Nguyễn Tùng C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số H660/81, Tổ 81, Khu phố 9, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ theo quy định pháp luật thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Nguyễn Tùng C theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn Tùng C vắng mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228, Khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Hồng Y và ông Nguyễn Tùng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164 ngày 22/10/2003 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà Y yêu cầu được ly hôn với ông C vì cho rằng trong quá trình chung sống thì thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông C có hành vi bạo lực gia đình với bà Y, bà Y đã từng nộp đơn ra Toà án nhưng vì con nên bà Y rút đơn để cho ông C cơ hội để thay đổi nhưng ông C vẫn không thay đổi, vẫn có hành vi bạo lực gia đình. Căn cứ Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Y và ông C ngày 17/6/2019 tại địa phương thể hiện trong quá trình chung sống vợ chồng ông C, bà Y có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến bà Y nộp đơn ly hôn. Nhận thấy, nội dung Biên bản xác minh phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn về việc vợ chồng mâu thuẫn. Nhận thấy, thời gian xảy ra mâu thuẫn đã lâu và vợ chồng bà Y, ông C không có ý nguyện hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn của bà Y là có cơ sở. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C không đến Tòa án tham gia tố tụng, không thể hiện ý kiến, cũng như nguyện vọng muốn hàn gắn tình cảm gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Y là có căn cứ chấp nhận theo qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà Y và ông C có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồng Đức, sinh ngày 24/02/2004 và cháu Nguyễn Hồng Phúc, sinh ngày 14/11/2014. Bà Y yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế cháu Nguyễn Hồng Đức và Nguyễn Hồng Phúc hiện còn nhỏ và đang sống ổn định cùng bà Y và tại bản tự khai ngày 04/6/2019 cháu Đức có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Y là có cơ sở chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do đương sự không có yêu cầu.

Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 228, Khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Y đối với ông Nguyễn Tùng C về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Y được ly hôn đối với ông Nguyễn Tùng C.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Y được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hồng Đức, sinh ngày 24/02/2004 và Nguyễn Hồng Phúc, sinh ngày 14/11/2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra do đương sự không yêu cầu.

Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần thiết.

Ông Nguyễn Tùng C có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Y phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào toàn bộ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0033638 ngày 19/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo luật định./.

Cỡ chữ