- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23-7-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Bình
2/ Ông Nguyễn Văn Bá
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Ngô Văn Trƣờng E, sinh năm 1982. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Uyên U, sinh năm 1983. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: ấp N, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp V, xã VX, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 22/4/2019, nguyên đơn anh Ngô Văn Trường E trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị U thành hôn năm 2009, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 12/10/2009. Thời gian chung sống được gần 10 năm, lúc đầu sống rất hạnh phúc, sau này vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không được vui vẻ với nhau, thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống. Hiện vợ chồng không còn sống chung, đã ly thân khoảng 02 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Anh yêu cầu giải quyết cho anh được ly hôn với chị U.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Ngô Quốc D, sinh ngày 03/9/2009 và Ngô Ngọc Kim Ng, sinh ngày 08/10/2012 hiện đang sống chung với chị U. Anh giao 02 con chung cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 25/6/2019, người làm chứng bà Nguyễn Thị Htrình bày: Bà là mẹ ruột của chị U, bà có tổ chức lễ cưới cho chị U và anh Trường E. Sau khi thành hôn thì chị U về sống chung bên gia đình chồng được 02 năm, sau đó vợ chồng cùng đi làm. Thời gian đầu vợ chồng chị U sống hạnh phúc, thời gian sau này không hạnh phúc do phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, chồng của chị U không đưa tiền để nuôi con, vợ chồng chị U sống không hạnh phúc. Về con chung có 02 con chung là Ngô Quốc D và Ngô Ngọc Kim Ng đang sống với chị U và bà, chị U đi làm gửi tiền về nuôi con, cuộc sống cũng đảm bảo, 02 cháu vẫn còn đi học và phát triển tốt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt (có đơn xin vắng mặt), bị đơn vắng mặt (không lý do), người làm chứng vắng mặt (có ý kiến xin vắng mặt).
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thể hiện trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hoàn toàn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có ý kiến về nội dung mà nguyên đơn khởi kiện, không tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người làm chứng có ý kiến trình bày xin vắng mặt tại phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Văn Trường E, xử cho anh Trường E ly hôn với chị Nguyễn Thị Uyên U. Về con chung: Giao 02 con chung tên Ngô Quốc D, sinh ngày 03/6/2009 và Ngô Ngọc Kim Ng, sinh ngày 08/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Uyên U tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Ngô Văn Trường E không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ngô Văn Trường E có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí sơ thẩm: Anh Ngô Văn Trường E phải nộp 300.000đ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của anh Ngô Văn Trường E yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị Uyên U cư trú ấp N, xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn anh Ngô Văn Trường E có đơn xin vắng mặt ngày 04/6/2019, bị đơn chị Nguyễn Thị Uyên U được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà H đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Anh Ngô Văn Trường E và chị Nguyễn Thị Uyên U thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 239 vào ngày 12/10/2009 nên xem quan hệ hôn nhân giữa anh Trường E và chị U là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu anh chị sống có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hai người tự cắt đứt quan hệ vợ 02 năm nay và sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để Toà án hoà giải giúp đở đoàn tụ nhưng chị U vắng mặt không lý do, và tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột của chị U cũng xác định giữa chị U và anh Trường E thường xuyên phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, sống không hạnh phúc. Như vậy cho thấy tình cảm giữa anh Trường E và chị U không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của anh Trường E là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét thấy 02 con chung Ngô Quốc D, sinh ngày 03/6/2009 và Ngô Ngọc Kim Ng, sinh ngày 08/10/2012 hiện đang sống trực tiếp với chị U, cuộc sống cũng đảm bảo, cháu D có nguyện vọng sống chung với chị U. Anh Trường E đồng ý giao 02 con chung cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trường E không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Chị U không có ý kiến về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử xét giao 02 con chung cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trường E không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Trường E có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ngô Văn Trường E không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Ngô Văn Trường E phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Ngô Văn Trường E. Xử cho anh Ngô Văn Trường E ly hôn với chị Nguyễn Thị Uyên U.
2. Về con chung:
Giao 02 con chung tên Ngô Quốc D, sinh ngày 03/6/2009 và Ngô Ngọc Kim Ng, sinh ngày 08/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Uyên U tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Ngô Văn Trường E không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ngô Văn Trường E có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Anh Ngô Văn Trường E không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc anh Ngô Văn Trường E nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh E đã nộp theo biên lai thu số 0015308 ngày 25/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tr. Anh Ngô Văn Trường E đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Vĩnh Long; - VKSND huyeän Tr; - THADS huyeän Tr; - UBND xã Th, huyện Tr, tỉnh Vĩnh Long (Giấy chứng nhận kết hôn số 239 ngày 12/10/2009); - Caùc ñöông söï; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy An |