vanban.org

Bản án 53/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc N + Đb - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 53/2018/HSST
Ngày 13-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Châu Hồng Nga;

Ông Tƣ̀ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 430/2017/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 41/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Ngo ̣c N , sinh năm 1989, tại tinh B; thƣờng trú: Số̉ 1126/8A, khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Buôn bán; trình đô ̣ ho ̣c vấn 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Ngọc T (chết) và bà Lê Thi ̣ M , sinh năm 1956; chồng tên Nguyễn Tro ̣ng T , sinh năm 1989 và có 02 con lớ n sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bi ̣ tạm giam từ ngày 14/9/2017, có mặt.

2. Roãn Mạnh H, sinh năm 1984, tại tỉnh N ; thƣờ ng trú : Xóm 7, xã G, huyê ̣n G, tỉnh N; chỗ ở : Khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D , tỉnh B; nghề nghiệp: Thợ mô ̣c; trình độ học vấn 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Roãn Đình H (chết) và bà Vũ Thi ̣ M , sinh năm 1957; bị cáo có 02 chị em lớn sinh năm 1982 và nhỏ là b ị cáo; vợ tên Pha ̣m Thi ̣ B (đa ly hôn ) và có 01 coñ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bi ̣ tạm giam từ ngày 14/9/2017, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Huỳnh Thi ̣ Ng uyễn K, sinh năm 1973; thƣờng trú: Số 28/9B, khu phố C, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;

2. Bà Nguyễn Thị Thu N2, sinh năm 1966; thƣờ ng trú : 1126/8A, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;

Ngườ i là m chứ ng:

1. Ông Đỗ Trƣờ ng C, sinh năm 1975; thƣờ ng trú: Ngõ 117, tổ 11, khu phố N, quâ ̣n H, thành phố H; chỗ ở : Tổ 30, đƣờ ng L, khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;

2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994; thƣờ ng trú : Xã T, huyê ̣n T, tỉnh Q ; chỗ ở: Khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;

3. Ông Vũ Nhƣ T, sinh năm 1981; thƣờ ng trú : Xã Đ, huyê ̣n T, tỉnh P; chỗ ở: Đƣờng số 8, khu phố 1, phƣờ ng L, quâ ̣n T, Thành phố H, vắng mă ̣t;

4. Ông Pha ̣m Văn P, sinh năm 1980; thƣờ ng trú : Số 26C, ấp B , xã H , thành phố B, tỉnh Đ, vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Thị Ngọc N là đối tƣợng nghiện ma túy và bắt đầu buôn bán ma túy từ tháng 08/2017. N mua ma túy của một ngƣời đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực quận 8, thành phố H về phân nhỏ ra làm nhiều liều bán cho các đối tƣợng nghiện đồng thờ i cũng có ma túy để N sử dụng. Ai có nhu cầu mua ma túy thì gọi điện thoại cho N qua số 0935033921 để thỏa thuận giá cả, số lƣợng và địa điểm giao nhận. Với phƣơng thức trên, tối ngày 13/9/2017, tại xƣởng gỗ T thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B, N bán cho Đỗ Trƣờng C, sinh năm 1975, thƣờ ng trú n gõ 117, tổ 11, phố N, quận H, thành phố H 01 liều ma túy với giá 200.000 đồng, bán cho Roãn Mạnh H, sinh năm 1984 thƣờ ng trú xóm 7, xã G , huyê ̣n G, tỉnh N 01 liều ma túy giá 200.000 đồng nhƣng H chƣa trả tiền. Đến khoảng 09 giờ ngày 14/9/2017, N đến xƣởng gỗ T lấy tiền mà H còn thiếu. Tại đây, H đƣa cho N 500.000 đồng, nhƣng N không có tiền thối lại nên đƣa cho H thêm 03 liều ma túy, trong đó có 01 liều giá 300.000 đồng, 02 liều còn lại mỗi liều giá 150.000 đồng và dặn H cầm giúp N, khi nào có ai mua N gọi điện thoại hoặc có ngƣời lấy ma túy thì H đƣa cho ngƣời đó H đồng ý. Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 61N6-4456 đến xƣởng gỗ T, gặp Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994, thƣờng trú xã T, huyện T, tỉnh Q lấy 300.000 đồng và kêu H đƣa cho Đ 02 liều ma túy, giá mỗi liều là 150.000 đồng. Nghe N nói, H lấy 03 gói ma túy cầm trên tay đƣa cho Đ và nói Đ tƣ̣ lƣ̣a và lấy 01 gói ma túy thì bị lực lƣợng Công an phƣờng T bắt quả tang N, H, Đ, C và yêu cầu ai có ma túy thì giao nộp, lúc này C lấy trong túi quần ra 01 gói ma túy, N lấy trong áo ngực ra 10 gói ma túy giao nộp cho Công an. Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra còn làm việc với Phạm Văn P, P khai sử dụng ma túy từ đầu năm 2017, lần cuối sử dụng ma túy cách ngày 14/9/2014 khoảng 02 tháng. Vụ việc đƣợc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Nguyễn Thị Ngọc N và các đối tƣợng nghiện đã thừa nhận N đã bán ma túy tại xƣởng gỗ T, các lần cụ thể nhƣ sau:

- Bán cho Roãn Mạnh H 02 lần ma túy vào ngày 13/9/2017 và ngày 14/9/2017, lần đầu giá 200.000 đồng, lần thƣ́ hai giá 300.000 đồng;

- Bán cho Đỗ Trƣờng C 07 lần ma túy, 02 lần gần nhất là ngày 12 và 13/9/2017, mỗi lần giá 150.000 đồng đến 400.000 đồng;

- Bán cho Nguyễn Văn Đ 02 lần ma túy, vào ngày 13/9/2017 giá 400.000 đồng và ngày 14/9/2017 giá 300.000 đồng;

- Bán cho Vũ Nhƣ T 01 lần ma túy, vào ngày 10/9/201 vớ i giá 100.000 đồng.

Ngày 14/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, sau đó khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Nguyễn Thị Ngọc N, Roãn Mạnh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Tang vật tạm giữ:

- 10 gói ni lông hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng thu của N;

- 02 gói ni lông hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng thu của H;

- 01 gói ni lông hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng thu của Đ;

- 01 gói ni lông hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng thu của C;

- 01 xe mô tô biển số 61N6-4456 thu của N;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 có sim số 0935.033921 và điện thoại Lenovo có sim số 0925.547.568 thu của N.

- Số tiền 600.000 đồng thu của N.

* Căn cứ kết luận giám định số 422/GĐ-PC54 ngày 16/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Mẫu tinh thể đƣợc niêm phong có chữ ký của Đỗ Trƣơng C gửi đến giám định có trọng lƣợng 0,2447gam, loại methamphetamine.

*Căn cứ kết luận giám định số 423/GĐ-PC54 ngày 18/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Mẫu tinh thể đƣợc niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thị Ngọc N gửi đến giám định có trọng lƣợng 1,9991 gam, loại methamphetamine.

* Căn cứ kết luận giám định số 424/GĐ-PC54 ngày 17/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Mẫu tinh thể đƣợc niêm phong có chữ ký của Roãn Mạnh H gửi đến giám định có trọng lƣợng 0,2620 gam, loại methamphetamime.

* Căn cứ kết luận giám định số 425/GĐ-PC54 ngày 15/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Mẫu tinh thể đƣợc niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn Đ gửi đến giám định có trọng lƣợng 0,1350 gam, loại methamphetamime.

* Đối với Nguyễn Văn Đ và Đỗ Trƣờng C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣng chƣa đủ định lƣợng để xử lý hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định xử phạt hành chính mỗi đối tƣợng số tiền 1.500.000 đồng theo khoản 2 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và thông báo về địa phƣơng nơi Đ, C cƣ trú để quản lý.

* Đối với Vũ Nhƣ T và Phạm Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định xử phạt hành chính mỗi đối tƣợng số tiền 750.000 đồng theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và thông báo về địa phƣơng nơi T, P cƣ trú để quản lý.

* Đối với xe mô tô biển số 61N6-4456 là do bà Huỳnh Thị Nguyễn K, sinh năm 1973, HKTT: 28/9B khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B đứng tên sở hữu, năm 2014, bà K bán xe nói trên cho bà Nguyễn Thị Thu N2 chƣa làm thủ tục sang tên. Bà N2 là mẹ chồng của N, bà N2 cho N mƣợn làm phƣơng tiện đi lại, N sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội bà N2 không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho bà N2.

* Đối với điện thoại hiệu Lenovo có sim số 0925.547.568 không liên quan đến hành vi phạm tội đã trả lại cho gia đình bị can Nguyễn Thị Ngọc N.

* Đối với điện thoại di động hiệu Nokia 1280 có sim số 0935.033921 và số tiền 600.000 đồng là phƣơng tiện phạm tội và tiền thu lợi bất chính của bị cáo N đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc.

*Đối với đối tƣợng bán ma túy cho N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đang xác minh làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 378/GĐ-PC54 ngày 15/08/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng nêu trên.

Tại cáo trạng số 22/QĐ - KSĐT ngày 28 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngo ̣c N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và truy tố bị cáo Roãn Mạnh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thi ̣ Ngọc N mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù; áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt Roãn Mạnh H mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo N và H xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngo ̣c N không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 12 giờ 30 ngày 14/9/2017 tại xƣở ng gỗ Tùng C thuô ̣c khu phố Đ, phƣờ ng T, thị xã D, tỉnh B, Nguyễn Thị Ngọc N cùng Roãn Mạnh H bán ma túy cho đối tƣợng Nguyễn Văn Đ thì bị lực lƣợng Công An thị xã Dĩ An tuần tra phát hiện. Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”; “Phạm tội thuộc một trong cá c trườ ng hợp sau đây thi bi ̣ phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

̀

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần...”

Bị cáo Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c N khai nhâ ̣n đa nhiều lẫ

̀n bán ma túy cho bi ̣ cáo Roãn Mạnh H , các đối tƣợng Đỗ Trƣ ờng C, Nguyễn Văn Đ , Vũ Nhƣ T . Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Thị Ngo ̣c N đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm b khoản 2 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣.

̀

Đối vớ i bi ̣ cáo Ro ãn Mạnh H , viê ̣c bi ̣ cáo khai nhâ ̣n khô ng thu lợi bất chính gì từ v iê ̣c bi ̣ cáo và bi ̣ cáo N bán ma túy cho đối tƣợng Nguyễ n Văn Đ. Tuy nhiên, bị cáo H là ngƣời giƣ̃ ma túy cho bi ̣ cáo N , trƣ̣c tiếp gă ̣p và đƣa ma túy cho Đ. Hành vi này của bị cáo H đa là ngƣời đồng phạm v à giúp sức để bị̃ cáo N thƣ̣c hiê ̣n hành vi mua bán ma túy , nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣.

̀

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N và Roãn Mạnh H thực hiện là nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì tham lam tƣ̣ lợi muốn kiếm lờ i tƣ̀ viê ̣c mua bán ma túy và để có ma túy sử dụng nên các bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho các bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thị Ngo ̣c N và Roãn Mạnh H không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c N và Roãn Mạnh H thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Để thể hiê ̣n sƣ̣ khoan hồng của pháp luâ ̣t nên cần xem xét áp du ̣ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho đối vớ i cả hai bị cáo.

Về nhân thân : Các bị cáo là ngƣời lao động chƣa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng:

- Đối với: 01 bì thƣ niêm phong số 422/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,1626gam; 01 bì thƣ niêm phong số 423/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 1,8933gam; 01 bì thƣ niêm phong số 424/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,1858gam; 01 bì thƣ niêm phong số 425/PC54 trọng lƣợng sau giám định là 0,0919gam do đa không cõ

̀n giá tri ̣ sƣ̉ du ̣ng nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy;

- Đối với : 01 Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Nokia

1280 màu đỏ , số imei 353664/05/947023/3 và sim số 0935033921; Số tiền 600.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c N . Đây là công cu ̣ phƣơng tiê ̣n pha ̣m tô ̣i và số tiền 600.000 đồng do bi ̣ cáo N thu lợi bất chinh nên cần ti ̣ch thu sung công quy nhã

̀ nƣớ c.

́

Đối với đối tƣợng bán ma túy cho N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đang xác minh làm rõ xử lý sau.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các b ị cáo Nguyễn Thị Ngọc N và Roãn Mạnh H phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT\ ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N và Roãn Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Roãn Mạnh H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2017.

2. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣; điểm a và đ khoản 2

̀ Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sƣ̣.

̀

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì thƣ niêm phong số 422/PC54 trọng lƣợng sau giám định là

0,1626g;

- 01 bì thƣ niêm phong số 423/PC54 trọng lƣợng sau giám định là

1,8933g;

- 01 bì thƣ niêm phong số 424/PC54 trọng lƣợng sau giám định là

0,1858g;

- 01 bì thƣ niêm phong số 425/PC54 trọng lƣợng sau giám định là

0,0919g;

- 01 sim điê ̣n thoa ̣i số 0935033921.

Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc:

- 01 Điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Nokia

1280 màu đỏ , số imei 353664/05/947023/3;

- Số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn ) đồng do b ị cáo Ng uyễn Thi ̣ Ngo ̣c N thu lợi bất chinh.

́

(Theo biên bản giao nhận vật chứ ng , tài sản ngày 29/12/2017 giữa Cơ quan Cảnh sá t điều tra công an thi ̣ xã Dĩ An và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các b ị cáo Nguyễn Thị Ngọc N và Roãn Mạnh H mỗi bi ̣ cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án . Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ