- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2018/HSST ngày 27/06/2018 đối với bị cáo Nguyễn Đô L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (đ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đô L 9 (chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53 /2018/HSST Ngày: 27/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và bà Nguyễn Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2018/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đô L (tên gọi khác: không); sinh ngày 15 tháng 03 năm 1993 tại xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm T, xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông: Nguyễn Trung H, sinh năm 1967; Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/03/2018 đến ngày 03/04/2018 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: anh Lê Văn Th, sinh năm 1976 (có mặt)
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã DV, huyện D, tỉnh Nghệ An.
* Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm T, xã DH, huyện D, Nghệ An.
2. Chị Lê Thị H, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm T, xã DH, huyện D, Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/3/2018, Nguyễn Đô L đi một mình bằng xe Dream từ nhà đến khu vực xã DV, huyện D chơi. Khi đi trên một đoạn đường đê thuộc xóm Đ, xã DV, huyện D, tỉnh Nghệ An thì L phát hiện tại sân nhà anh Lê Văn Th có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, màu tím bạc, biển số: 37N1-08139 của anh Th không có người trông coi, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa nên Nguyễn Đô L đã nảy sinh ý định trộm cắp. Nguyễn Đô L đi xe máy qua nhà anh Th khoảng 500 mét và để xe máy của mình bên mép đường, sau đó L đi bộ vào trong sân nhà anh Th rồi dắt chiếc xe máy trên ra đường và nổ máy đi. Sau đó, L gửi tại nhà bà Nguyễn Thị Tr. Do không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên bà Tr đồng ý cho L gửi xe. Vì nhà chật nên bà Tr nhờ anh Trần Văn D đưa chiếc xe Nouvo nói trên sang nhà chị Lê Thị H. Sau khi gửi xe máy đã trộm cắp được thì L đi bộ quay lại lấy xe máy của mình và đi về nhà.
Ngày 24/3/2018, Ban Công an xã DH, huyện D và anh Lê Văn Th đã phát hiện chiếc xe có đặc điểm như trên tại nhà bà Lê Thị H nên đã thu giữ. Đồng thời, phát hiện thu thêm chiếc xe nhãn hiệu Yamaha, Loại Sirius, màu đỏ đen, số khung: DY-139511, số máy 5C6K-139511 của anh Nguyễn Thế B, chiếc xe này do anh B bị mất 11/01/2015 tại xóm Đ, xã HT, huyện YTh, tỉnh Nghệ An. Theo lời khai của chị H: vào ngày 12/02/2018, một người đàn ông không xác định tên tuổi, địa chỉ đến nhà chị H thì gặp con trai chị H là Trần Văn T ở nhà một mình và có nói là bạn của bố đồng thời xin nhờ xe Sirius nói trên.
Đến ngày 28/3/2018, Nguyễn Đô L đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D đầu thú và khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 30/3/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe của anh Lê Văn Th. Tại bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận chiếc xe máy bị cáo chiếm đoạt có giá trị 20.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 58/CT-VKSDC ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo: Nguyễn Đô L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 9 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tại phiên tòa, bị cáo không có tranh luận về tội danh, và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, Nguyễn Đô L khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/3/2018 tại xóm Đ, xã DV, huyện D, tỉnh Nghệ An lợi dụng sơ hở của người bị hại dựng xe máy ở trong sân không có ai trông coi, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa nên Nguyễn Đô L đã có hành vi bí mật, lén lút chiếm đoạt một chiếc xe máy mang BKS 37 N1 – 08139 của anh Lê Văn Th trú tại xã DV, huyện D trị giá 20.000.000 đồng.
Bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội vì vụ lợi. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Đô L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm đến trật tự trị an nơi thôn xóm. Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, giá trị tài sản chiếm đoạt 20.000.000 đồng, nên cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội ra đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 điều 173 BLHS quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”, do dó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa hôm nay người bị hại không có yêu cầu gì nên miễn xét.
Đối với chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị Tr không biết chiếc xe máy do Nguyễn Đô L gửi là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với vụ trộm cắp tài sản chiếc xe máy của Nguyễn Thế B vào ngày 11/01/2015 hiện chưa xác định được đối tượng trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Về án phí hình sự: căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đô L 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/03/2018 đến ngày 03/04/2018. Về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về án phí hình sự: căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Buộc bị cáo Nguyễn Đô L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người TGTT; - VKS huyện D; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự; - Cơ quan THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Huyền |