- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Trí H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Trí H phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n huyÖn quúnh phô tØnh th¸i b×nh | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 53/2018/HS-ST Ngµy 28/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ
Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Quang Đương.
- Bà Nguyễn Thị Huề.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 44/2018/TLST-HS ngày 28/5/2018 đối với bị cáo: Lê Trí H, sinh năm 1975.
Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay tại: Thôn TB, xã Q, huyện P, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bố đẻ: Ông Lê Trí N (đã chết). Mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1948.
Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1978. Con: Có 2 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không.
Danh, chỉ, bản số: 088, Công an huyện Quỳnh Phụ lập ngày 04/4/2018.
Bị tạm giữ từ ngày 01/4/2018 đến ngày 04/4/2018 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bị hại: Anh Đỗ Tiến T, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Thôn K, xã DH, huyện HH, tỉnh B.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo và người bị hại)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biết tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 30/3/2018, bị cáo H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave anpha BKS 17K6- ACCC của H đi từ nhà lên bệnh viện đa khoa P để chữa bệnh. Trong lúc vào gửi xe ở lán xe tại sân của bệnh viện, H phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave RSX màu xanh-đen BKS 17B4-ABCDH của anh Đỗ Tiến T dựng phía trước xe mô tô của H, chìa khóa xe vẫn cắm tại ổ khóa cốp xe. Thấy xung quanh không có ai, H rút chìa khóa xe mô tô của anh T cho vào túi quần rồi đi lên khoa đông y để châm cứu. Khi đi được một đoạn H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe nên quay lại vị trí để chiếc xe của anh T, lấy chìa khóa mở cốp xe thì thấy trong cốp có 01 vé gửi xe (loại thẻ từ), 01 áo mưa màu đỏ. H lấy vé gửi xe rồi dong xe ra chỗ bảo vệ soát vé, đưa vé cho bảo vệ là anh Ngô Duy H1, sinh năm 1973 trú tại tổ 8 thị trấn QC, huyện P, anh H1 kiểm tra và cho H đi qua. H dong xe ra ngoài nổ máy điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp được về để ở lán xe của gia đình. Sau đó H đi xe đạp sang nhà anh Phùng Phú T1, sinh năm 1978 ở cùng thôn là em rể H bảo anh T1 chở lên bệnh viện đa khoa P châm cứu. Anh T1 đồng ý điều khiển xe mô tô của anh chở H lên cổng bệnh viện rồi về. H đi lên khoa đông y châm cứu đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì xuống lấy xe mô tô BKS 17K6-ACCC của H đi về. Khoảng 10 giờ 45 phút anh T xuống lấy xe thì phát hiện xe bị mất đã báo tổ bảo vệ. Anh cùng anh Ngô Duy H1 kiểm tra lại camera ở khu vực soát vé thì phát hiện vào lúc khoảng 7 giờ 25 phút có một người đàn ông khoảng 40-50 tuổi mặc quần vải, áo màu xanh, đi dép màu đen, cao khoảng 1m67 đã lấy chiếc xe của anh T ra khỏi bệnh viện và có vé xe đầy đủ. Sau đó các anh đã trình báo lên Công an huyện Quỳnh Phụ. Khoảng 16 giờ ngày 30/3/2018, H mở cốp xe mô tô trộm cắp lấy cờ lê có sẵn trong cốp xe tháo hai gương chiếu hậu và BKS 17B4-ABCDH ra để tránh bị phát hiện. Chiếc BKS 17B4-ABCDH H cất giấu ở khe tủ quần áo, chiếc áo mưa và hai gương chiếu hậu H cất giấu ở tủ ti vi đặt ở gian phòng khách nhà H. Sáng ngày 31/3/2018 H điều khiển xe mô tô BKS 17K6-ACCC đi lên bệnh viện đa khoa huyện P để châm cứu thì bị tổ công tác Công an huyện P yêu cầu về trụ sở Công an huyện làm việc. Tại đây H đã khai toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh T vào ngày 30/3/2018.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xanh – đen ở lán xe; 01 chìa khóa xe ở trên mặt tủ để đồ ở phòng ngủ; 01 BKS 17B4-ABCDH ở khe tủ quần áo; 01 chiếc áo mưa màu đỏ và hai gương chiếu hậu ở tủ ti vi đặt ở gian phòng khách.
Kết quả định giá tài sản: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave RSX màu xanh-đen BKS 17B4-ABCDH trị giá 25.500 triệu đồng; áo mưa trị giá: 40.000đ. Tổng trị giá tài sản là 25.540.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKSQP ngày 28/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố bị cáo H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H về tội: “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo có thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Bị cáo pH chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bị hại ý kiến: Về trách nhiệm hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo H theo quy định của pháp luật hình sự; Về trách nhiệm dân sự đã nhận lại tài sản bị trộm cắp vì vậy không yêu cầu bị cáo H bồi thường.
BÞ c¸o kh«ng cã ý kiÕn tranh luËn, bÞ c¸o cã lêi nãi sau cïng ®Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö c©n nh¾c, xem xÐt cho bÞ c¸o ® îc h ëng møc ¸n nhÑ nhÊt ®Ó bÞ c¸o yªn t©m c¶i t¹o, hßa nhËp céng ®ång ®Ó trë thµnh c«ng d©n cã Ých cho x· héi.
NhËn ®Þnh cña tßa ¸n
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 7 giờ 25 phút ngày 30/3/2018 bị cáo Lê Trí H đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave RSX màu xanh
- đen BKS 17B4-ABCDH, 01 áo mưa màu đỏ nhãn hiệu Honda, tổng trị giá 25.540.000 đồng của anh Đỗ Tiến T, sinh năm 1997, trú tại Thôn K, xã DH, huyện HH, tỉnh B để tại lán xe của bệnh viện đa khoa P, tỉnh B. Hành vi của bị cáo H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tộị phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.
[3].Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội và dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy việc xét xử bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần Tết, đồng thời lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4].Xét về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng và nhân thân của bị cáo cho thấy: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, do vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo được H1 tình tết giảm nhẹ. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, hiện tại có nơi cư trú ổn định rõ ràng.
[5].Từ những phân tích nêu trên, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để lên mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thì cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hiện tại bị bệnh phải điều trị, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6].Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan công an đã thu hồi chiếc xe máy Honda Wave RSX; 01 biển kiểm soát 17B4-ABCDH; 01 chìa khóa xe mô tô; 01 chiếc áo mưa màu đỏ và hai gương chiếu hậu. Ngày 13/4/2018 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đỗ Tiến T. Anh T đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về vấn đề dân sự, vì vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
[7].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lý lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Trí H phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Trí H 01 (Một) năm tù nhưng cho H1 án treo có thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2018 đến ngày 04/4/2018).
Giao bị cáo Lê Trí H cho Uỷ ban nhân dân xã xã Q, huyện P, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phảichấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự”
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Trí H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
Án xử công khai sơ thẩm.
N¬i nhËn:
| - VKSND huyÖn Quúnh Phô; - C«ng an huyÖn Quúnh Phô; - Chi côc THADS huyÖn Quúnh Phô; - BÞ c¸o; Bị hại; - L u HSVA. | tm. héi ®ång xÐt xö ThÈm ph¸n- Chñ täa phiªn tßa . NguyÔn Minh §øc (đã ký) |