vanban.org

Bản án 53/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 23/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ Điể m g Khoản 2 Điều 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điểm b, p khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị Quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 về việ c thi hà nh Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i, bổ sung năm 20…

Tuyên bố các bị cáo Nguyễ n Văn T , Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễ n Văn T 36 (ba mươi sá u) tháng tù; thờ i hạn tù tính từ ngà y 18-12-2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ Điể m g Khoản 2 Điều 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điểm b, p khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị Quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 về việ c thi hà nh Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i, bổ sung năm 20…
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2018/HS-ST
Ngày 23-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễ n Ngọ c Quý

Ông Nguyễ n Hữ u Trọ ng

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩ m thụ lý số 33/2018/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2018 theo Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số 35/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄ N VĂN T, sinh năm 1993 tại xã Đ, huyệ n C, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú : Thôn L, xã Đ, huyệ n C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giá o: Không; quố c tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễ n Văn V và bà Nguyễ n Thị V; vợ , con: Chưa; Danh chỉ bản số 88 lập ngày 18-12-2017 tại Công an huyện Chương Mỹ; tiề n sự : Không;

Tiền án:

- Ngày 06-3-2013 bị Tòa án nhân dân huyện Q , Thành phố Hà Nội xử phạ t 40 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 (Bản án số 29/2013/HSST ngày 06-3-2013 của TAND huyện Q), chấp hành xong hình phạt tù ngày 12-01-2016.

- Ngày 28-02-2017 bị Tòa á n nhân dân huyệ n C , Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 (Bản án số 15/2017/HSST ngày 28-02-2017 của TAND huyện C - Giá trị tài sản trộ m cắ p là 3.500.000 đồ ng), chấp hành xong hình phạt tù ngày 20-9-2017.

Nhân thân:

Ngày 16-9-2009 bị TAND huyện L, tỉnh H xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 133 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-4-2012. Do khi phạm tội là trẻ em (15 tuổi 9 tháng 10 ngày) nên đượ c coi là không có án tích theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 107 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-12-2017, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an Thà nh phố Hà Nội, có mặt.

2. ĐỖ VĂN H, sinh năm 1996 tại huyện C, Thành phố Hà Nộ i; Nơi cư trú : tổ 2, khu X, thị trấn X, huyệ n C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộ c: Kinh; giớ i tí nh: Nam; tôn giá o: Không; quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông Đỗ Văn T và bà Võ Thị H; vợ , con: Chưa; Danh chỉ bản số 87 lập ngày 18-12-2017 tại Công an huyện Chương Mỹ; tiề n sự : Không;

Tiền án:

- Ngày 21-8-2015 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạ t 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 139 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 (Bản án số 93/2015/HSST ngày 21-8-2015 của TAND huyện C), chấp hành xong hình phạt tù ngày 09-01-2016.

- Ngày 20-12-2016 bị Tòa án nhân dân huyện C , Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 139 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 (Bản án số 138/2016/HSST ngày 20-12-2016 của TAND huyện C), chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-10-2017.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-12-2017, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an Thà nh phố Hà Nội, có mặt.

- Người bị hại: Anh Nguyễ n Thiên L, sinh năm 1995 - Nơi ĐKHKTT: Tổ 17, phườ ng P, quậ n H, Thành phố Hà Nội ; Tạm trú tại: Số nhà 126c, ngõ 3, tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Trầ n Văn T1, sinh năm 1995 – Tạm trú tại: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

2. Anh Đặng Văn P, sinh năm 1991 - Trú tại: Số nhà 87, ngõ 3, tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

3. Anh Lê Chí Anh T 2, sinh năm 1998 - Tạm trú tại: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

4. Anh Lê Xuân T3, sinh năm 1982 - Trú tại: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

5. Anh Trầ n Trọ ng T4, sinh năm 1982 - Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyệ n C, Thành phố Hà Nội, vắ ng mặ t.

NỘ I DUNG VỤ ÁN

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 11-12-2017, Nguyễn Văn T và Đỗ Văn H cùng đi chơi điện tử tại quán Internet của chị Ngô Thị G (số nhà 77, ngõ 3, tổ 2, khu T, thị trấn X, huyệ n C, Thành phố Hà Nội). Đế n khoả ng 02 giờ ngày 18-12-2017, T, H đi về thấ y trướ c cử a quá n có 01 chiếc xe mô tô Honda Wave, biể n kiể m soá t 29T1-xx của anh Nguyễn Thiên L đang chơi game. T bàn với H tìm dụng cụ phá khoá để trộm cắp chiếc mô tô củ a anh L , H dẫ n T đến nhà bạn H là anh Lê Xuân T3 (Trú tại ngõ 3, tổ 2, khu T, thị trấn X, huyệ n C) mượ n để tìm dụng cụ phá ổ khoá nhưng T3 trả lời không có rồi đi ngủ . T đi tìm trong khu vự c nhà T3 được 01 chiếc kéo rồ i cùng H quay lại quán Internet của chị G. Khi đến quán, H vào trong quán chơi điện tử nhằ m mụ c đí ch cảnh giới, T dùng kéo phá khoá lấ y xe mô tô BKS 29T1-xx rồ i chở H đến khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện M gặp Trần Trọng T4 hỏi vay 3.800.000 đồng và gửi lại chiếc xe mô tô để làm tin. H và T cùng chi tiêu hết số tiền 3.800.000 đồng. Đến ngày 14-12-2017, Nguyễn Văn T trả lại số tiền 3.800.000 đồng cho Trần Trọng T4 và lấ y lại xe mô tô, tháo vứt biển kiểm soát để sử dụ ng.

Khi biế t việ c lấ y trộ m xe đã bị phát hiện , ngày 17-12-2017 Đỗ Văn H và Nguyễn Văn T đã đến Công an Thị trấn X để đầu thú và giao nộp xe mô tô trộm cắp đượ c.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ kết luận: 01 chiế c xe hiệ u Honda Wave, biể n kiể m soá t 29T1-xx có trị giá 5.000.000 đồng. Ngày 28-12-2017, Công an huyệ n C đã ra quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng trả lạ i xe mô tô cho anh Nguyễ n Thiên L , anh L đã nhậ n lạ i xe và không yêu cầ u bồ i thườ ng gì khác.

Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễ n Văn T, Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điể m c Khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễ n Văn T, Đỗ Văn H khai nhậ n cùng thực hiện hành vi lén lút chiế m đoạ t tài sản 01 xe mô tô Honda Wave, biể n kiể m soá t 29T1-xx của anh Nguyễn Thiên L đang để trướ c cử a quán Internet của chị Ngô Thị G. Sau khi biế t đã bị phát hiện, H điệ n cho T ra đầ u thú và giao nộ p lạ i xe mô tô trả cho anh L.

Ngườ i bị hạ i Nguyễ n Thiên L trình bày khi biế t Đỗ Văn H là người lấy trộm xe mô tô đã trì nh bá o vớ i Công an thị trấn X. Do các bị cáo đã đầu thú và giao nộ p trả lại xe cho anh L nên anh xin giả m nhẹ hì nh phạ t cho cá c bị cá o.

Đại diện Viện kiểm sát huyệ n Chương Mỹ tham gia phiên tò a khẳ ng đị nh có đầ y đủ căn cứ truy tố Nguyễ n Văn T, Đỗ Văn H về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”; đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử áp dụng Điể m c Khoản 2 Điều 138 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt Nguyễ n Văn T từ 30 đến 36 tháng tù, Đỗ Văn H từ 24 đến 30 tháng tù; Không phạt tiền bổ sung đố i vớ i các bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tài liệu trong hồ sơ vụ á n đã được tranh tụ ng tại phiên toà, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

[1] Về tộ i danh: Xét lờ i khai nhậ n hành vi phạm tội củ a cá c bị cáo tại phiên tòa phù hợp vớ i nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, vậ t chứ ng và phù hợ p vớ i các tài liệu, chứng cứ đượ c thu thậ p trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kế t luậ n: Trong ngày 12-12-2017, Nguyễ n Văn T và Đỗ Văn H cùng nhau thự c hiệ n hà nh vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô Wave ALPHA trị giá 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Thiên L. Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ truy tố các bị cáo phạm tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n ” và phạm vào tình tiết định khun g “Tái phạm nguy hiể m” là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo thực hiện trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hà nh nên đượ c áp dụng các quy đị nh củ a Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 đồ ng thờ i áp dụng quy định có lợi cho các bị cáo theo Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử . Tại Điểm c Khoản 2 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 có quy định ngang bằng vớ i Điể m g Khoả n 2 Điề u 173 Bộ luậ t hình sự năm 2015, tuy nhiên tội “Trộ m cắ p tài sản” tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đị nh nhẹ hơn so với Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 nên Tòa án xét xử các bị cáo Nguyễ n Văn T, Đỗ Văn H theo quy đị nh tạ i Điể m g Khoả n 2 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 và Nghị Quyế t 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 về việ c thi hà nh Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i, bổ sung năm 2017.

[2] Về tí nh chấ t, mứ c độ tộ i phạ m và năng lự c chị u trá ch nhiệ m hì nh sự và vai trò phạ m tộ i củ a từ ng bị cá o : Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn; Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, thấy cần áp dụng hình phạt tù thỏ a đá ng đố i vớ i các bị cáo để giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

Xét về vai trò phạm tội của từng bị cáo thì bị cáo Nguyễ n Văn T là người chủ động bàn bạc, phân công đồ ng phạ m, trự c tiế p thự c hiệ n hành vi phá khóa trộ m cắ p tà i sả n và quản lý tài sản trộm cắp đượ c nên có vai trò phạm tội cao hơn bị cáo Đỗ Văn H.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễ n Văn T, Đỗ Văn H đều bị kết án 02 lầ n chưa đượ c xó a á n lạ i tiế p tụ c phạ m tộ i nên thuộ c trườ ng hợ p “Tá i phạ m nguy hiể m” là tình tiết định khung hình phạt nên không coi là tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 48 Bộ luậ t h ình sự năm 1999.

Các bị cáo đã tự nguyệ n ra đầ u thú , khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, tự nguyệ n giao nộ p tài sản để trả lại cho ngườ i bị hạ i đượ c ngườ i bị hạ i có ý kiế n xin giả m nhẹ hì nh phạ t là các tình tiết giảm nhẹ chung theo quy đị nh tạ i Điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế và hoàn cảnh của gia đình các bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đố i vớ i cá c bị cáo.

[5] Về bồ i thườ ng thiệ t hạ i: Bị hại Nguyễ n Thiên L đã nhậ n tài sản bị chiếm đoạ t và không có yêu cầ u bồ i thườ ng gì khá c nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đị nh.

[7] Về tí nh hợ p phá p củ a cá c hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng : Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điề u tra viên , Kiể m sá t viên và ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng khá c trong vụ á n đượ c thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hì nh sự nên cá c hành vi tố tụng, quyế t đị nh tố tụ ng và các tài liệu chứng cứ đượ c thu thậ p trong hồ sơ vụ á n là hợ p phá p.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điể m g Khoản 2 Điều 173 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điểm b, p khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị Quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 về việ c thi hà nh Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 đượ c sử a đổ i, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễ n Văn T , Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễ n Văn T 36 (ba mươi sá u) tháng tù; thờ i hạn tù tính từ ngà y 18-12-2017.

+ Xử phạt bị cá o Đỗ Văn H 30 (ba mươi) tháng tù; thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y 18-12-2017.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quố c hộ i quy định về án phí và lệ phí Tòa án , buộc cá c bị cá o Nguyễ n Văn T, Đỗ Văn H mỗ i ngườ i phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo và người b ị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ