vanban.org

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/2/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Hồng Ch. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi con chung Phạm Thị Th, sinh ngày 24-5-2015, anh Ch không phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Đ. Anh Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Đ và anh Ch"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/2/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2018/HNGĐ-ST
Ngày 19-7-2018
V/v: Ly hôn giữa
chị Đ với anh Ch.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Nơi 2. Bà Phạm Thị Huệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2018/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “ Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989 (có mặt)

Đăng ký HKTT: Thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Th Nơi ở hiện nay: Thôn Ph, xã H, huyện H, tỉnh Th.

2. Bị đơn: Anh Phạm Hồng Ch, sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Th. (Anh Ch có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10-4-2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Phạm Hồng Ch do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND) xã C vào ngày 12-12-2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng không bảo ban được nhau nên trong cuộc sống thường xuyên xảy ra va chạm cãi

- 1 -

nhau. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị không khắc phục được đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 5-2016, vợ chồng chị cũng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ch.

Về nuôi con chung: Chị và anh Ch có 01 con chung là Phạm Thị Th, sinh ngày 24-5-2015, từ khi vợ chồng ly thân chị là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi cháu Th, chị không yêu cầu anh Ch có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về chia tài sản: Chị và anh Ch không có tài sản chung, không vay nợ ai.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20-6-2018, bị đơn anh Phạm Hồng Ch trình bày:

Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Đ do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C vào ngày 12-12-2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được khoảng 05 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, trong cuộc sống hay xảy ra va chạm cãi nhau. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và đã sống ly thân từ tháng 6-2016 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Đ xin ly hôn, anh cũng nhất trí.

Về nuôi con chung: Anh và chị Đ có 01 con chung là Phạm Thị Th, sinh ngày 24-5-2015 hiện nay đang do chị Đ nuôi dưỡng. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Đ tiếp tục nuôi cháu Th, anh không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị vì anh bị khuyết tật, không có khả năng cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Anh và chị Đ không có tài sản chung, không có nợ chung.

Tại biên bản xác minh ngày 20-6-2018, UBND xã C cung cấp: hiện nay, anh Phạm Hồng Ch đang được hưởng chế độ khuyết tật nặng với mức trợ cấp xã hội là 405.000đồng/tháng.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, chị Đ và anh Ch đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Phạm Hồng Ch; về nuôi con chung: Giao cho chị Đ tiếp tục nuôi cháu Phạm Thị Th, anh Ch không phải góp cấp dưỡng nuôi con; về chia tài sản: Chị Đ, anh Ch không có tài sản chung. Chị Đ phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- 2 -

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Phạm Hồng Ch. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Anh Ch đang cư trú tại Thôn L, xã C, huyện H, tỉnh Th nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Ch có mặt tại địa phương, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ch, anh Ch có đơn xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa xét xử nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và vẫn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Ch theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Hồng Ch kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C vào tháng 12-2014, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 6 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, trong cuộc sống thường xảy ra cãi nhau. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 6-2016 đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Chị Đ, anh Ch sống ly thân đã lâu, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Đ được ly hôn anh Ch là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Đ và anh Ch có 01 con chung là Phạm Thị Th, sinh ngày 24-5-2015. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị Đ là người trực tiếp nuôi con. Chị Đ có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu Th và không yêu cầu anh Ch có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh Ch hiện nay đang hưởng trợ cấp xã hội đối với người bị khuyết tật nặng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, cần giao cho chị Đ được tiếp tục nuôi cháu Th, anh Ch không phải góp cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Chị Đ và anh Ch không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Chị Đ phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số

- 3 -

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/2/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Hồng Ch.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi con chung Phạm Thị Th, sinh ngày 24-5-2015, anh Ch không phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Đ. Anh Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản: Anh Ch và chị Đ không có tài sản chung.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ chị Đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005163 ngày 04-5-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà (chị Đ đã nộp đủ).

5. Quyền kháng cáo: Chị Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ch có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã C, huyện H, tỉnh Th.

Cỡ chữ