- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Th/Đoàn Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật tống tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật tống tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 53/2018/DS-ST Ngày: 02/8/2018 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Khuyên; Bà Bùi Thị Mỹ Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trường Minh Lý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02/8/2018, tại trụ sở TAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2018/TLST-DS ngày 22/6/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2018/QĐXXST- DS ngày 20/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th , sinh năm 1968
Nơi cư trú: Thôn H, xã Â, huyện Hoài Ân,tỉnh Bình Định;
2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn T , sinh năm 1960
Nơi cư trú: Thôn V, xã Â, huyện Hoài Ân,tỉnh Bình Định;
3. Người có nghĩa vụ liên quan:Ông Huỳnh Văn Ng , sinh năm 1966
Nơi cư trú: Thôn H, xã Â, huyện Hoài Ân,tỉnh Bình Định;
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/6/2018 và những lời khai tiếp theo, cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th trình bày: Vào ngày 10/10/2016 (âm lịch) ông Đoàn Văn T ở thôn V , xã Â có vay của bà 100.000.000,đ để đáo hạn Ngân hàng, hai bên thỏa thuận khoảng 1 tuần sẽ trả số tiền trên, Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên bà khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Đoàn Văn T phải trả số tiền vay 100.000.000,đ và trả tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày mượn đến nay.
Đối với bị đơn ông Đoàn Văn T thừa nhận vào năm 2016 ông có vay của bà Nguyễn Thị Th ở thôn H, xã Â hai lần tổng cộng 150.000.000,đ mục đích là vay dùm cho bà Trần Thị Ngọc B để đáo hạn Ngân hàng, sau đó ông có trả cho bà Th 50.000.000,đ hiện còn nợ 100.000.000,đ. Nay bà Th kiện ông chấp nhận nợ nhưng do ông vay dùm nên khi nào bà B trả cho ông thì ông sẽ trả cho bà Th.
Người có quyền lợi liên quan ông Huỳnh Văn Ng là chồng bà Th trình bày: ông thống nhất với lời trình bày của vợ ông, ông yêu cầu ông T phải trả số tiền trên vì ông T là người nhận tiền của vợ chồng ông nên phải có trách nhiệm trả.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân giám sát việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và HĐXX phát biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán và HĐXX chấp hành đúng về trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Đoàn Văn T phải trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000,đ và tính lãi theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th khởi kiện yêu cầu ông Đoàn Văn T trả số tiền đã mượm, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn Đoàn Văn T cư trú tại xã Â , huyện Hoài Ân, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tống tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 10/10/2016 (âm lịch) do ông Đoàn Văn T trực tiếp viết và được hai bên thừa nhận với nội dung, ông Đoàn Văn T có vay của vợ chồng Th , Ng số tiền 100.000.000,đ nên HĐXX có căn cứ xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 100.000.000,đ và yêu cầu tính lãi theo lãi suất Ngân hàng kể từ ngày mượn cho đến ngày xét xử thì thấy rằng: Giấy mượn tiền ngày 10/10/2016 (âm lịch) tức ngày 09/11/2016 (dương lịch) thì lúc vay hai bên không thỏa thuận thời gian trả nhưng mục đích vay được hai bên thừa nhận là để đáo hạn ngân hàng và ông T cũng thừa nhận là vay tạm vài ngày cho bà Trần Thị Ngọc B để đáo hạn ngân hàng. Trước khi khởi kiện vợ chồng ông Ng bà Th có hỏi nợ nhiều lần nhưng ông T không trả tiền do đó bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần buộc ông Đoàn Văn T phải trả số tiền đã vay cho vợ chồng ông Ng bà Th là có căn cứ.
. Đối với lời nại của bị đơn cho rằng khoản tiền này ông vay dùm cho bà Trần Thị Ngọc B ở thôn B , xã Â nên khi nào bà B trả tiền cho ông thì ông sẽ trả cho bà Th . Việc vay mượn tiền này là giữa ông T và vợ chồng bà Th trực tiếp vay nhận tiền và viết giấy, trong hợp đồng không liên quan đến bà B nên với yêu cầu trên thể hiện bị đơn là người thiếu trách nhiệm không trung thực và không có thiện chí trả nợ do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
. Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Tuy trong giấy vay tiền hai bên không thỏa thuận lãi suất nhưng do bị đơn đã vi phạm thời hạn trả nợ nên bị đơn phải chịu tiền lãi kể từ ngày vi phạm. Hai bên đều thừa nhận vay tạm vài ngày để đáo hạn ngân hàng nên ngày vi phạm thời hạn trả nợ được tính sau bảy ngày kể từ ngày mượn tiền, tức ngày 16/11/2016 tính đến ngày xét xử là 20 tháng, mức lãi suất được tính theo quy định tại khoản 4 Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự, cụ thể: 100.000.000,đ x 0,83% x 20 tháng = 16.600.000,đ.
Về án phí: Theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn Đoàn Văn T phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463; 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Th.
Buộc bị đơn Đoàn Văn T phải trả số tiền 116.600.000,đ (một trăm mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) (trong đó tiền vay 100.000.000,đ và tiền lãi 16.600.000,đ) cho nguyên đơn Nguyễn Thị Th và người có quyền lợi liên quan Huỳnh Văn Ng.
Với khoản tiền đã tuyên trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành chậm thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Đoàn Văn T phải chịu 5.830.000,đ.
Hoàn trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị Th tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000,đ theo biên lai thu số 0007667 ngày 22/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
3. Các đương sự có mặt tại phiên tòa hôm nay được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được qui định theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6 điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Hoài Ân + tỉnh; - Các đương sự; - CC THADS huyện Hoài Ân; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Bình |