- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 194 BLHS) - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 19…"
- Tòa quyết gì? *. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH -BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------- Bản án số: 53/2017/HSST Ngày 05 tháng 7 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Xuân Tuấn
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thủy
2. Bà Nguyễn Thị Luân
Thư ký TAND huyện Gia Bình ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến
Đại diện VKSND huyện Gia Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm -
KSV
Ngày 05/7/2017, tại Hội trường thôn N, thị trấn G, huyện G, tỉnh B, TAND huyện G mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2017/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2017/HSST- QĐ ngày 19/6/2017, đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN N, SN: 1970
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện G, tỉnh B
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12
Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết)
Có vợ là Lưu Thị H – SN: 1975; và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997,
con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2017 đến nay, hiện đang bị tạm
giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Văn N bị VKSND huyện Gia Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 16 giờ 20 phút, ngày 11/4/2017, tại đường đê Đại Hà đoạn thuộc thôn T, xã T, huyện G, tổ công tác Công an huyện G phối hợp cùng Công an xã T phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 (một) gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng từ tay phải N đang cầm, mở ra bên trong là lớp giấy màu xanh trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroine). N khai nhận, đó là gói ma túy N vừa mua về để sử dụng do bản thân N nghiện chất ma túy. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra không thu giữ gì khác.
Tại bản Kết luận giám định số 563/KLGĐ-PC54 ngày 11/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói nhỏ gửi giám định, có trọng lượng 0,2387 gam; Loại ma túy: Chất Heroine.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn N khai nhận: Ngày 11/4/2017, N đi từ nhà sang thôn V, xã T để tìm mua ma túy về sử dụng, do N nghiện chất ma túy. Tại đường thôn V, N đã mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, N cầm lấy bằng tay phải đi bộ về nhà để sử dụng. Khi đang bộ trên đường đê Đại Hà đoạn thuộc thôn T, xã T thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
*. Tại Cáo trạng số 42/CTr-VKS ngày 26/5/2017 của VKSND huyện Gia Bình đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 của BLHS.
*. Tại phiên toà, bị cáo N đã thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,2387 gam ma túy, loại ma túy: chất Hêrôin, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang là của bị cáo. Bị cáo nhất trí với kết luận của cơ quan chuyên môn về trọng lượng, chất ma túy. Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải.
*. Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà công bố bản luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố bị cáo N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 33 của BLHS năm 1999; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội; Công văn 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016; Khoản 3 Điều 7 và Khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.
Xử phạt bị cáo N từ 18 - 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Đề nghị áp dụng: Điều 41 của BLHS, Điều 76 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
Sau khi nghe bản luận tội của VKSND huyện Gia Bình, bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như bản luận tội đã nêu.
Lời nói sau cùng, bị cáo N đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với với biên bản phạm pháp quả tang, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ được, các kết luận giám định, và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự, quy định của pháp luật. Do vậy, đủ cơ sở để kết luận: Hồi 16 giờ 20 phút, ngày 11/4/2017 tại đường đê Đ đoạn thuộc thôn T, xã T, huyện G, tỉnh B khi Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy có trọng lượng 0,2387 gam, loại ma túy: chất Heroine ở tay phải của N, với mục đích là để sử dụng cho thân. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 BLHS, đúng như tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ, đó là quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây truyền bệnh tật.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 của BLHS. Do đó, khi lượng hình HĐXX cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù nhẹ hơn khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999. Do vậy, căn cứ Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội, Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 cần áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, bản thân mắc nghiện nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn N. Do N không biết tên, tuổi, địa chỉ người đàn ông nói trên nên Cơ quan điều tra chưa có đủ căn cứ để điều tra làm rõ. Khi nào xác minh làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
*. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*. Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 33 của BLHS năm 1999; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7 và Khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015; Điều 228 của BLTTHS.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo: ngày 11/4/2017.
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.
*. Về việc xử lý vật chứng: áp dụng Điều 41 của BLHS, Điều 76 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư có dấu niêm phong, mặt trước có ghi người gửi: CAH Gia Bình. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm KLGĐ số 563/KLGĐ – PC54 ghi ngày 11/4/2017 của PC54. Mặt sau có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.
Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/5/2017.
*. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
*. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Gia Bình; - Chi cục THA huyện Gia Bình (HLPL); - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà Đinh Xuân Tuấn (đã ký) |