- Tranh chấp gì? án hình sự — "lý kiềm páo - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Kiềm P (Tên gọi khác: Lý Kìm P) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2017/HSST Ngày 22/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐĂK NÔNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1) Bà Phạm Thị Thơm
2) Bà Nguyễn Thị Thuận.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên toà: Ông Lục Văn Đông – Kiểm sát viên sơ cấp
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2017/HSST ngày 19/11/2017 đối với bị cáo: Lý Kiềm P (Tên gọi khác: Lý Kìm P); nơi cư trú: Thôn 05, xã A, huyện M, tỉnh Đăk Nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao đỏ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Lý Giáo Xính và bà Lý Mùi Chản (đều đã chết); Vợ là Lý Mùi Coi (đã chết) và 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1986, Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/7/2017, hiện đang bị tạm giam tại Công an huyện C
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Vần M, sinh năm 1985.
Trú tại: Thôn 06, xã Đ, huyện M, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 06 giờ ngày 27/7/2017, bị cáo Lý Kiềm P mượn xe mô tô biển kiểm soát 48E1 – XXX.71 của anh Lý Vần M để vào xã A, huyện C thăm anh Bàn Tòn Ch (cháu của P). Khi đến nơi anh Ch không có nhà nên P ra về, đến khoảng gần 11 giờ cùng ngày P về đến khu vực gần cầu Sắt thuộc thôn 11 xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên P đi tìm mua ma túy để sử dụng, lúc này P gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân) và hỏi mua ma túy với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thì người đàn ông này đồng ý. Sau khi nhận tiền xong người này đi đâu thì P không rõ, khoảng 10 phút sau người này quay lại đưa cho P 01 (một) vỏ bao thuốc lá JET nói bên trong có gói ma túy (hêrôin). P cất gói ma túy vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc trên người và đi ra về theo hướng thị trấn E, huyện C tỉnh Đăk Nông. Khi đi đến đường bê tông thuộc Bon U, Thị trấn E, huyện C (P đi đường tắt về nhà) thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của P 01 vỏ bao thuốc lá JET, bên trong có 01 gói nhỏ được bọc lớp giấy bạc màu trắng sáng, mở ra có chứa chất bột rắn màu trắng nâu.
Vật chứng Cơ quan CSĐT Công an huyện C thu giữ gồm:
- 01 gói nhỏ bên ngoài bọc giấy bạc màu trắng sáng, bên trong có chứa chất bột rắn màu trắng nâu được đặt trong vỏ bao thuốc lá Jet;
- 01 điện thoại di động màu đen hiệu Nokia Model RM – 944, Type: RM 944, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong;
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 48 E1 – XXX.71 nhãn hiệu HONDA- BLADE, màu sơn đen đỏ.
Tại bản kết luận giám định số 53/PC54 ngày 02/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông: mẫu chất rắn gửi giám định là chất ma túy, là Hêrôin trọng lượng 0,3227gam, mẫu vật còn lại sau giám định có trọng lượng 0,1425gam.
Tại bản cáo trạng số 52/CTr-VKS ngày 09/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Lý Kiềm P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 được áp dụng xử lý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Lý Kiềm P thừa nhận VKSND huyện C truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng, không oan. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì, mà chỉ xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Lý Kiềm P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/7/2017).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng sau giám định là 0,1425 gam; Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA - BLADE, biển kiểm soát 48 E1 – xxx.71; Trả lại 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Nokia Model RM – 944, Type: RM 944, đã qua sử dụng cho anh Lý Vần M là chủ sở hữu hợp pháp.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX thấy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2017, tại đoạn đường bê tông thuộc Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đăk Nông bắt quả tang bị cáo Lý Kiềm P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần trên người bị cáo 01 (một) gói ma túy là Hêrôin có trọng lượng 0,3227gam.
Do đó, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 quy định: Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Tuy nhiên, đối chiếu với các quy định mới cho người phạm tội thấy tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hình khung hình phạt nhẹ hơn.
Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………………………………
c) Hêrôin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam;
………………………….”
Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì hành vi của Lý Kiềm P được áp dụng xử lý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý (Hêrôin), gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được những tác hại của việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo là có căn cứ, không oan. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2008, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đăk Nông xử phạt 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", bị cáo không lấy đó làm bài học vẫn cố tình phạm tội.
Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định,mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, và cũng thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận xử lý vật chứng như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Đối với nguời đàn ông có hành vi bán ma túy trái phép cho Lý Kiềm P tại xã T huyện C, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Kiềm P (Tên gọi khác: Lý Kìm P) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Lý Kiềm P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 27/7/2017)
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng sau giám định là 0,1425 gam; Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA - BLADE, biển kiểm soát 48 E1 – XXX.71; Trả lại 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Nokia Model RM – 944, Type: RM 944, đã qua sử dụng cho anh Lý Vần M là chủ sở hữu hợp pháp. (Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT với Chi cục thi hành án dân sự huyện C)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dƣơng Hà Ngân |