vanban.org

Bản án 53/2017/DS-PT — Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 24/07/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị C - Văn phòng công chứng BA"
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng D n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 53/2017/DS-PT.
Ngày: 24/7/2017.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố Văn bản
công chứng vô hiệu.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân.

- Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng.

Bà Vũ Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong – Thư Tòa án nh n d n t nh m Đ ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 7 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nh n d n t nh m Đ ng xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số: 25/2017/TLDS- PT ngày 27 tháng 4 năm 2017 về việc: “ Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”.

Do Bản án d n sự sơ thẩm số: 04/2017/DS-ST ngày 17/3/2017 của Tòa án nh n d n huyện BL bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2017/QĐ-PT ngày 29/5/2017, Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử phúc thẩm số: 458/TB-TA ngày 10/7/2017 của Tòa án nh n d n t nh m Đ ng giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1962.

Địa ch : Thôn 8, xã LN, huyện BL.

- Bị đơn: Văn phòng công chứng BA (nay là Văn phòng công chứng NTQ).

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thọ Q, sinh năm: 1955.

Chức vụ: Trưởng Văn phòng công chứng NTQ.

Địa ch : 12 Trần Hưng Đạo, TT. LT, huyện BL.

- Ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan:

1/ Chi cục thi hành án d n sự huyện BL.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn H – Chi cục trưởng.

2/ Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1960.

Địa ch : Thôn 8, xã LN, huyện BL.

3/ V ch ng ông Phạm Văn H2, sinh năm: 1963.

Bà Phạm Thị X, sinh năm: 1968.

Địa ch : Thôn 13, xã LN, huyện BL.

Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn H2 là Bà Phạm Thị X.

(Văn bản ủy quyền ngày 17/7/2017).

4/ V ch ng ông Phạm Văn H3, sinh năm: 1966.

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1969.

Địa ch : Thôn 13, xã LN, huyện BL.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang T, sinh năm: 1966.

Địa ch : 28/3 Trần Hưng Đạo, phư ng M, thành phố Đ .

(Văn bản ủy quyền ngày 13/5/2017).

5/ V ch ng ông Phạm Văn P, sinh năm: 1969.

Bà Phạm Thị S, sinh năm: 1970.

Địa ch : Thôn 13, xã LN, huyện BL.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang T, sinh năm: 1966.

Địa ch : 28/3 Trần Hưng Đạo, phư ng M, thành phố Đ .

(Văn bản ủy quyền ngày 13/5/2017).

Do c háng cáo của: Bà Phạm Thị X, v ch ng ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị N, v ch ng ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S - Ngư i c quyền l i và ngh a vụ liên quan; Ông Nguyễn Thọ Q - Bị đơn.

(Bà C, ông Q, ông H1, bà X, ông T c mặt; ông H c đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG V ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2015 và những lời trình bày của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị C thì:

Tại Bản án số: 07A/2015/DS-ST ngày 03/02/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL tuyên buộc v ch ng Bà Phạm Thị X, ông Phạm Văn H2 phải trả cho v ch ng Bà C, ông H1 số tiền 1.760.000.000 đ ng, hông đ ng với bản án trên nên bà X háng cáo. Tại Quyết định số: 17/2015/QĐ-PT ngày 13/5/2015 của Tòa án nh n d n t nh m Đ ng đã đình ch xét xử phúc thẩm nên Bản án d n sự số: 07A/2015/DS-ST ngày 03/02/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL c hiệu lực pháp luật. Sau hi bản án c hiệu lực pháp luật v ch ng bà X, ông H2 hông thực hiện ngh a vụ trả tiền cho v ch ng Bà C, ông H1 mà cố tình tẩu tán tài sản để trốn tránh ngh a vụ thi hành án. Cụ thể v ch ng bà X, ông H2 cùng với Bà Phạm Thị S đến Tòa án nh n d n huyện Di inh để giải quyết một vụ n và đư c Tòa án nh n d n huyện Di inh ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận số: 16/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 với nội dung bà X, ông H2 phải c trách nhiệm trả cho bà S 1.500.000.000 đ ng. Đ ng th i, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận số: 17/2015QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung là bà X, ông H2 phải c trách nhiệm trả cho ông H3 là 900.000.000 đ ng.

Sau khi c 02 quyết định trên giữa bà X, ông H2 với v ch ng ông H3, bà N và bà X, ông H2 với v ch ng ông P, bà S thỏa thuận thi hành án chuyển giao hết các tài sản của bà X, ông H2 cho v ch ng ông H3, bà N và ông P, bà S.

Cụ thể: Ngày 15/5/2015, bà X và ông H2 chuyển như ng cho ông H3, bà N quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ số 49, 65, 77 diện tích 12.593,9m2 tại xã LN, huyện BL theo h p đ ng công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ; ngày 18/5/2015, bà X và ông H2 chuyển như ng cho ông P, bà S quyền sử dụng đất và tải sản gắn liền với đất các thửa đất 404, 86 t bản đ số 00, 51 diện tích 24.005,3m2 tại xã LN, huyện BL theo h p đ ng công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ.

Đối với 02 quyết định công nhận sự thỏa thuận trên và việc thỏa thuận thi hành án là hoàn toàn giả mạo nhằm mục đích trốn tránh ngh a vụ thi hành án. Do vậy, Bà C làm đơn hởi iện yêu cầu Tòa án nh n d n huyện BL tuyên bố văn bản công chứng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/5/2015 giữa bên chuyển như ng ông Phạm Văn H2, Bà Phạm Thị X và bên nhận chuyển như ng Bà Phạm Thị S, ông Phạm Văn P và h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/5/2015 giữa bên chuyển như ng ông Phạm Văn H2, Bà Phạm Thị X và bên nhận chuyển như ng Bà Nguyễn Thị N, ông Phạm Văn H3 đối với các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ số 49, 65, 77 diện tích 12.593,9m2 và thửa 404, 86 t bản đ số 00, 51 diện tích 24.005,3m2 tại xã LN, huyện BL theo h p đ ng công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 và công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ là vô hiệu.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn Ông Nguyễn Thọ Q trình bày: Khi công chứng h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 18/5/2015 giữa bên chuyển như ng ông Phạm Văn H2, Bà Phạm Thị X bên nhận chuyển như ng Bà Phạm Thị S, ông Phạm Văn P và h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/5/2015 giữa bên chuyển như ng ông Phạm Văn H2, Bà Phạm Thị X bên nhận chuyển như ng Bà Nguyễn Thị N, ông Phạm Văn H3 đối với các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ số 49, 65, 77 diện tích 12.593,9m2 và thửa 404, 86 t bản đ số 00, 51 diện tích 24.005,3m2 tại xã LN, huyện BL. Tại th i điểm công chứng là Văn phòng công chứng BA. Đến ngày 04/7/2015 Văn phòng công chứng BA chuyển đổi thành Văn phòng công chứng NTQ.

Sau hi xem xét toàn bộ h sơ liên quan đến 02 văn bản công chứng trên thì trình tự thủ tục để công chứng là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, đ ng th i tài sản chuyển như ng trên cũng hông bị ngăn chặn, cưỡng chế ê biên và toàn bộ diện tích đất chuyển như ng đã đư c cấp quyền sử dụng đất h p pháp cho bên chuyển như ng quyền sử dụng đất và bên chuyển như ng và bên nhận chuyển như ng đất c đầy đủ năng lực hành vi d n sự nên việc công chứng cho các bên chuyển như ng là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Việc h p đ ng chuyển như ng nêu trên và đư c công chứng là căn cứ vào ết quả thỏa thuận thi hành án của cơ quan Thi hành án d n sự huyện BL.Đ ng th i, tại Công văn số 113/THA ngày 18/5/2015 của Chi cục thi hành án d n sự huyện BL ban hành văn bản đề nghị các cơ quan c liên quan tạo điều iện cho các bên thực hiện giao dịch chuyển như ng quyền sử dụng đất.

Do vậy, Bà C yêu cầu Tòa án nh n d n huyện BL tuyên bố văn bản công chứng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với h p đ ng công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 và công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 vô hiệu ông Q hoàn toàn hông đ ng .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Phạm Thị X trình bày:

Căn cứ Quyết định số 16/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung là bà X ông H2 phải c trách nhiệm trả cho bà S 1.500.000.000 đ ng và Quyết định số: 17/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung là bà X, ông H2 phải c trách nhiệm trả cho ông H3 900.000.000 đ ng.

Căn cứ vào Bản án số 07A/2015/DS-ST ngày 03/02/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL bà X, ông H2 phải trả cho v ch ng Bà C, ông H1 1.760.000.000 đ ng. Việc trả n cho Bà C và ông H1 bà X đã gặp v ch ng Bà C n i chuyển như ng quyền sử dụng đất để cấn trừ n nhưng Bà C hông đ ng .

Để thực hiện việc trả n cho v ch ng ông H3 bà N và v ch ng ông Sáu, bà Phi, các bên thỏa thuận hiện nay các thửa đất số 133 t bản đ 77, thửa đất số 35, 06 t bản đ số 65, thửa đất số 404 t bản đ 00, thửa đất số 86 t bản đ 51, thửa đất số 148 t bản đ 49 đã đư c v ch ng bà X thế chấp tại Ng n hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh BL và tại Ng n hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh BL. V ch ng ông H3, bà N cùng v ch ng ông P, bà S sẽ trả toàn bộ số n vay ở 02 ng n hàng trên cho v ch ng bà X, sau đ v ch ng bà X sẽ làm thủ tục chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho v ch ng ông H3, bà N và v ch ng ông P, bà S theo giá Ng n hàng thẩm định. Do thỏa thuận thống nhất như trên nên đến ngày 15/5/2015 v ch ng bà X chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho v ch ng ông H3, bà N đối với thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ 49, 65, 77 diện tích 12.539,9m2 địa ch tại xã LN, huyện BL, t nh m Đ ng đư c công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ.

Ngày 18/5/2015, v ch ng bà X chuyển như ng cho v ch ng ông P, bà S quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với các thửa đất 404, 86 t bản đ 00, 51 diện tích 24.005,3m2 địa ch tại xã LN, huyện BL, t nh m Đ ng đư c công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ. Việc chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nhằm mục đích thanh toán số n vay cho v ch ng ông H3, bà N và v ch ng ông P, bà S theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nh n d n huyện BL.

Diện tích đất chuyển như ng là theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đư c cấp cho v ch ng bà X và hiện nay toàn bộ tài sản trên v ch ng bà X đã giao cho v ch ng ông H3, bà N và v ch ng ông P, bà S canh tác sử dụng.

Nguyên nh n v ch ng bà X hông thỏa thuận thi hành án với v ch ng ông H1, Bà C vì Bà C hông đ ng lấy đất để cấn trừ n . Nay Bà C yêu cầu Tòa án nh n d n huyện BL tuyên bố văn bản công chứng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 và số 17755 quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 vô hiệu, v ch ng bà X hoàn toàn hông đ ng .

Vợ chồng ông Phạm Văn H3, Bà Nguyễn Thị N và Ông Trần Quang T trình bày:

Tại Quyết định số 17/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung là Bà Phạm Thị X ông Phạm Văn H3 phải c trách nhiệm trả cho v ch ng ông H3, bà N số tiền 900.000.000 đ ng. Sau hi quyết định c hiệu lực pháp luật thì tại Chi cục thi hành án d n sự huyện BL v ch ng bà X, ông H2 đ ng cấn trừ các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ 49, 65, 77 tại xã LN với diện tích 12.593,9m2 cho v ch ng ông H3, bà N để trả n theo quyết định nêu trên.

V ch ng ông H3, bà N phải bỏ ra một hoản tiền trả cho Ng n hàng để rút tài sản thế chấp trên ra để v ch ng bà X, ông H2 làm thủ tục sang tên cho v ch ng ông H3, bà N. Do trình tự thủ tục chuyển như ng cũng như việc thỏa thuận thi hành án là hoàn toàn đúng theo quy định, đ ng th i đến trước ngày 19/5/2015 Bà C và ông H1 chưa c đơn yêu cầu Thi hành án và cơ quan thi hành án chưa thực hiện việc ê biên tài sản chuyển như ng để đảm bảo cho việc thi hành án theo yêu cầu của Bà C nên Bà C làm đơn hởi iện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng số 17755 ngày 15/5/2015 vô hiệu, v ch ng ông H3, bà N hoàn toàn hông đ ng .

V ch ng ông bà đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạm th i để v ch ng bà X, ông H2 làm thủ tục sang tên cho v ch ng ông H3, bà N theo quy định của pháp luật vì hiện nay bà X, ông H2 đã giao toàn bộ tài sản trên cho v ch ng ông H3, bà N canh tác, sử dụng.

V ch ng ông H3, bà N hẳng định nếu yêu cầu hởi iện của Bà C đư c Tòa án chấp nhận thì v ch ng ông H3, bà N hông yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu trong vụ án này. Nếu sau này hởi iện thì v ch ng ông H3, bà N sẽ hởi iện bằng một vụ án hác.

Vợ chồng ông Phạm Văn P Bà Phạm Thị S và Ông Trần Quang T trình bày:

Tại Quyết định số: 16/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung Bà Phạm Thị X ông Phạm Văn H2 phải c trách nhiệm trả cho v ch ng ông P bà S 1.500.000.000 đ ng. Sau hi quyết định c hiệu lực pháp luật thì tại Chi cục Thi hành án d n sự huyện BL v ch ng bà X, ông H2 đ ng chuyển như ng đất để cấn trừ các thửa đất 404, 86 t bản đ 00, 51 tại xã LN với diện tích 24.005,3m2 cho v ch ng ông P, bà S để trả n theo quyết định nêu trên. Đ ng th i, v ch ng ông P, bà S cũng phải bỏ ra một hoản tiền để trả cho Ng n hàng rút tài sản thế chấp nêu trên ra để v ch ng bà X, ông H2 làm thủ tục sang tên cho v ch ng ông P, bà S.

Do trình tự thủ tục chuyển như ng đất cũng như việc thỏa thuận thi hành án là hoàn toàn đúng quy định pháp luật, đ ng th i đến ngày 19/5/2015 Bà C và ông H1 chưa c đơn yêu cầu thi hành án và tài sản chuyển như ng chưa bị ê biên để đảm bảo việc thi hành án theo yêu cầu của Bà C nên Bà C làm đơn hởi iện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng số 17778 vô hiệu, v ch ng ông P, bà S hoàn toàn hông đ ng . V ch ng ông P, bà S đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạm th i để v ch ng bà X, ông H2 làm thủ tục sang tên cho v ch ng ông P, bà S theo quy định của pháp luật vì hiện nay bà X, ông H2 đã giao toàn bộ tài sản trên cho v ch ng ông P, bà S canh tác, sử dụng.

V ch ng ông P, bà S hẳng định nếu yêu cầu hởi iện của Bà C đư c Tòa án chấp nhận thì v ch ng ông P, bà S hông yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu trong vụ án này. Nếu sau này hởi iện thì v ch ng ông P, bà S sẽ hởi iện bằng một vụ án hác.

Tại Bản án D n sự sơ thẩm số: 04/2017/DS-ST ngày 17/3/2017 của Tòa án nh n d n huyện BL. Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu hởi iện của Bà Nguyễn Thị C về việc “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” với Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ.

Tuyên bố văn bản công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ đối với h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ số 49, 65, 77 diện tích 12.593,9m2, xã LN, huyện BL giữa bên chuyển như ng là ông Phạm Văn H2 và Bà Phạm Thị X bên nhận chuyển như ng là ông Phạm Văn H3 và Bà Nguyễn Thị N và văn bản công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ đối với h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất các thửa đất 404, 86 t bản đ số 00, 51 diện tích 24.005,3m2, xã LN, huyện BL giữa bên chuyển như ng là ông Phạn Văn H2 và Bà Phạm Thị X bên nhận chuyển như ng là ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S là vô hiệu.

2. Về án phí:

Buộc Văn phòng công chứng NTQ phải nộp 200.000 đ ng án phí d n sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Bà Nguyễn Thị C 200.000 đ ng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003305 ngày 25/5/2015 của Chi cục thi hành án d n sự huyện BL.

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền háng cáo và trách nhiệm thi hành án cho các bên đương sự.

Ngày 17/3/2017, ngư i c quyền l i và ngh a vụ liên quan Bà Phạm Thị X, v ch ng ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị N, v ch ng ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S c đơn háng cáo yêu cầu tuyên bố Văn bản công chứng số: 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 và Văn bản công chứng số: 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ c hiệu lực và yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạm th i số: 05/2015/QĐ-BPKCTT ngày 06/8/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL.

Ngày 29/3/2017, bị đơn do Ông Nguyễn Thọ Q làm đại diện c đơn háng cáo yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu hởi iện của Bà Nguyễn Thị C.

Tại phiên tòa hôm nay:

Ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan Bà Phạm Thị X, ngư i đại diện theo ủy quyền của ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan v ch ng ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị N, v ch ng ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S là Ông Trần Quang T vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo.

Bị đơn Ông Nguyễn Thọ Q vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo là bác toàn bộ yêu cầu hởi iện của Bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu tuyên bố h p đ ng công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 và h p đ ng công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ vô hiệu.

Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị C hông chấp nhận háng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh m Đ ng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ l và của Hội đ ng xét xử tại phiên tòa là đúng pháp luật. Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng D n sự đề nghị Hội đ ng xét xử bác yêu cầu háng cáo bị đơn; ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan Bà Phạm Thị X, v ch ng ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị N, v ch ng ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S, giữ nguyên Bản án D n sự sơ thẩm số: 04/2017/DS-ST ngày 17/3/2017 của Tòa án nh n d n huyện BL.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu c trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên tòa và iến của đại diện Viện iểm sát. Hội đ ng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị C cho rằng v ch ng Bà Phạm Thị X, ông Phạm Văn H2 c n bà số tiền 1.760.000.000 đ ng nhưng v ch ng ông Xu n, bà Hàn hông thực hiện ngh a vụ trả n theo Bản án d n sự sơ thẩm số: 07A/2015/DS-ST ngày 03/02/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL c hiệu lực pháp luật, mà cố tình tẩu tán tài sản để trốn tránh ngh a vụ thi hành án thông qua việc v ch ng bà X, ông H2 cùng với Bà Phạm Thị S và ông Phạm Văn H3 đến Tòa án nh n d n huyện Di inh để giải quyết một vụ n và đư c Tòa án nh n d n huyện Di inh ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận số: 16/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận số: 17/2015QĐST-DS ngày 06/4/2015. Sau hi c 02 quyết định trên giữa bà X, ông H2 với v ch ng ông H3, bà N và v ch ng ông P, bà S thỏa thuận thi hành án chuyển giao hết các tài sản của bà X, ông H2 cho v ch ng ông H3, bà N và v ch ng ông P, bà S theo h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất và đư c công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 và h p đ ng công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ.

Do đ , Bà C hởi iện yêu cầu tuyên bố hai văn bản công chứng trên vô hiệu. Bị đơn hông đ ng với yêu cầu hởi iện của nguyên đơn vì cho rằng trình trự thủ tục công chứng đư c văn phòng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên các bên phát sinh tranh chấp. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “ Tranh chấp yêu cầu tuyên bố Văn bản công chứng vô hiệu” là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Xét háng cáo của bị đơn và những ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan thì thấy rằng:

Căn cứ vào Bản án D n sự sơ thẩm số: 07A/2015/DS-ST ngày 03/02/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL và Quyết định đình xét xử phúc thẩm vụ án d n sự số: 17/2015/QĐ-PT ngày 13/5/2015 của Tòa án nh n d n t nh m Đ ng thì v ch ng bà X, ông H2 phải trả cho v ch ng Bà C, ông H1 số tiền 1.760.000.000 đ ng là c trên thực tế.

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 16/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung là bà X, ông H2 phải c trách nhiệm trả cho bà S 1.500.000.000 đ ng và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 17/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh với nội dung bà X, ông H2 phải c trách nhiệm trả cho ông H3 900.000.000 đ ng.

Ngày 15/5/2015, tại Chi cục thi hành án d n sự huyện BL giữa bà X, ông H2 với bà S thỏa thuận bà X ông H2 chuyển như ng cho bà S 02 thửa đất 404, 86 – t bản đ 00, 51- LN- BL- m Đ ng với giá là 792.174.900 đ ng (Hai thửa đất này hiện đang đư c thế chấp tại Ng n hàng để vay số tiền 500.000.000 đ ng nên bà S phải trả n cho Ng n hàng để x a thế chấp) sau hi trả n cho Ng n hàng còn lại 292.174.900 đ ng đư c trừ vào số tiền 1.500.000.000 đ ng.

Cũng trong ngày 15/5/2015 tại Chi cục thi hành án d n sự huyện BL giữa bà X, ông H2 với ông H3 thỏa thuận bà X, ông H2 chuyển như ng cho ông H3 04 thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ 49, 65, 77 tại xã LN, huyện BL với giá là 539.000.000 đ ng (Bốn thửa đất này hiện đang đư c thế chấp tại Ng n hàng để vay số tiền 350.000.000 đ ng nên ông H3 phải trả n cho Ng n hàng để x a thế chấp). Sau hi trả n cho Ng n hàng còn lại 189.000.000 đ ng đư c trừ vào số tiền 900.000.000 đ ng. Việc thỏa thuận thi hành án nên trên đư c Chi cục Thi hành án d n sự huyện BL lập biên bản thỏa thuận thi hành án vào ngày 15/5/2015.

Sau hi thực hiện việc thỏa thuận trên thì bà X, ông H2 chuyển như ng cho ông H3 bà N quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ 49, 65, 77 diện tích 12.593,9 m2 tại xã LN với giá chuyển như ng là 500.000.000 đ ng đư c Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015.

Ngày 18/5/2015, bà X, ông H2 chuyển như ng cho ông P, bà S quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất 404, 86 t bản đ 00, 51 diện tích 24.005,3 m2 tại xã LN với giá chuyển như ng là 300.000.000 đ ng đươc Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015.

Tại th i điểm thực hiện công chứng thì tài sản chuyển như ng trên hông bị ngăn chặn, cưỡng chế ê biên nên Công chứng viên đã công chứng h sơ chuyển như ng giữa v ch ng bà X, ông H2 với v ch ng ông P, bà S và h sơ chuyển như ng giữa v ch ng ông H2, bà X với v ch ng ông H3, bà N.

[3] Xét thấy, Bà C cho rằng việc v ch ng bà X, ông H2 với v ch ng ông H3, bà N, v ch ng ông P, bà S thỏa thuận thi hành án sau đ làm thủ tục chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để chuyển giao hết tài sản từ ông H2, bà X sang bà S, ông P và từ ông H2, bà X sang ông H3, bà N làm ảnh hưởng tới quyền l i của Bà C, ông H1 là hông c cở sở chấp nhận. Bởi lẽ, Quyết định công nhận sự thỏa thuận số: 16/2015/QĐST-DS ngày 06/4/2015 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận số: 17/2015QĐST-DS ngày 06/4/2015 của Tòa án nh n d n huyện Di inh đã c hiệu lực pháp luật nên ngày 15/5/2015 các bên thỏa thuận hành án là đúng quy định của pháp luật đư c quy định tại hoản 1 Điều 6 uật thi hành án d n sự “Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hánh án được công nhận”.

[4] Hơn nữa, việc các bên thỏa thuận thi hành án là hoàn toàn tự nguyên, hông trái với pháp luật, đạo đức xã hội nên ngày 18/5/2015 Chi cục thi hành án d n sự huyện BL đã ban hành công văn số: 113/THA về việc phối h p thi hành án đề nghị qu cơ quan tạo điều iện để v ch ng ông H2, bà X, ông H3, bà S làm các thủ tục giao dịch d n sự đối với các thửa đất mà các bên thỏa thuận thi hành án.

[5] Mặt hác, tại th i điểm lập h p đ ng công chứng thì tài sản chuyển như ng trên cũng hông bị ngăn chặn, cưỡng chế ê biên và trình tự thủ tục đư c thực hiện đúng theo quy định tại Điều 41 uật công chứng. Vì vậy, Văn phòng công chứng BA công chứng cho các bên chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật nên việc Bà C hởi iện yêu cầu tuyên bố h p đ ng công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 và h p đ ng công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ vô hiệu là hông c căn cứ chấp nhận.

[6] Do yêu cầu hởi iện của Bà C là hông c cơ sở chấp nhận nên cần hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạm th i số: 05/201/5/QĐ-BPKCTT ngày 06/8/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL về việc cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp là thửa đất số 06, t bản đ 65, diện tích 4.662,1m2; thửa 148, t bản đ 49, diện tích 5.957,4m2; thửa 35, t bản đ 65, diện tích 1.647,5m2; thửa 133. T bản đ 77, diện tích 326,9m2; thửa 404 (thửa mới là 113), t bản đ 00, diện tích 1.549,7m2; thửa 86, t bản đ số 51, diện tích 2.064,3m2, tất cả các thửa trên đều tọa lạc tại xã LN, huyện BL là c căn cứ. Đ ng th i, quy định cho Bà C đư c nhận lại số tiền 30.000.000 đ ng tại Ng n hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện BL theo quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số: 05/2015/QĐ-BPBĐ ngày 06/5/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL mà Bà Nguyễn Thị C đã nộp theo giấy nộp tiền ngày 06/8/2015.

Với ph n tích trên, cấp phúc thẩm cần chấp nhận toàn bộ háng cáo của bị đơn và ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan để sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định là c căn cứ.

[7] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm nhưng phải chịu án phí d n sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng D n sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu háng cáo của bị đơn Văn phòng công chứng Nguyễn Quang Thọ; ngư i c quyền l i, ngh a vụ liên quan quan Bà Phạm Thị X, v ch ng ông Nguyễn Văn H3, Bà Nguyễn Thị N, v ch ng ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S. Sửa án sơ thẩm. Xử:

1. Bác yêu cầu hởi iện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng số 17755, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 15/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ đối với h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất các thửa đất 148, 35, 133, 06 t bản đ số 49, 65, 77 diện tích 12.593,9m2 tại xã LN, huyện BL giữa bên chuyển như ng là ông Phạm Văn H2, Bà Phạm Thị X bên nhận chuyển như ng là ông Phạm Văn H3, Bà Nguyễn Thị N và văn bản công chứng số 17778, quyển số 17/TPCC-SCC/HĐGD ngày 18/5/2015 của Văn phòng công chứng BA nay là Văn phòng công chứng NTQ đối với h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất các thửa đất 404, 86 t bản đ số 00, 51 diện tích 24.005,3m2 tại xã LN, huyện BL giữa bên chuyển như ng là ông Phạn Văn H2, Bà Phạm Thị X bên nhận chuyển như ng là ông Phạm Văn P, Bà Phạm Thị S vô hiệu.

2/ Hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạm th i số: 05/2015/QĐ-BPKCTT ngày 06/8/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL.

Quy định cho Bà Nguyễn Thị C đư c nhận lại số tiền 30.000.000 đ ng tại Ng n hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện BL theo quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số: 05/2015/QĐ-BPBĐ ngày 06/5/2015 của Tòa án nh n d n huyện BL mà Bà Nguyễn Thị C đã nộp theo giấy nộp tiền ngày 06/8/2015.

3. Về án phí: Buộc Bà Nguyễn Thị C phải chịu 200.000 đ ng án phí d n sự sơ thẩm nhưng đư c trừ vào số tiền 200.000 đ ng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003305 ngày 25/5/2015 của Chi cục thi hành án d n sự huyện BL.

Hoàn trả cho Ông Nguyễn Thọ Q 300.000 đ ng án phí d n sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004666 ngày 11/4/2017 của Chi cục thi hành án d n sự huyện BL.

Hoàn trả cho Bà Phạm Thị X 300.000 đ ng án phí d n sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004664 ngày 10/4/2017 của Chi cục thi hành án d n sự huyện BL.

Hoàn trả cho v ch ng ông Phạm Văn H3, Bà Nguyễn Thị N 300.000 đ ng án phí d n sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004662 ngày 10/4/2017 của Chi cục thi hành án d n sự huyện BL.

Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 uật thi hành án d n sự thì ngư i đư c thi hành án d n sự, ngư i phải thi hành án d n sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 uật thi hành án d n sự; Th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ