- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quốc K - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dương Quốc K do bị cáo rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 529/2019/HS-PT Ngày: 17 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Vân
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Vũ Ngọc Huynh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 262/2019/TLPT - HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Dương Quốc K; do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 09 tháng 04 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Bị cáo bị kháng nghị:
Dương Quốc K; sinh năm 1994 tại Long An; HKTT: ấp 1, xã M, huyện T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Văn H, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Bạch H (chết); Anh chị em ruột: có 01 người anh, sinh năm 1990; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/7/2018 đến ngày 18/7/2018 chuyển sang tạm giam cho đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trương Thị Thu H là luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ ngày 09/7/2018, Dương Quốc K đến nhà Lê Bảo A tại ấp 1, xã Mỹ Lạc, huyện T, tỉnh L gặp Lê Thị Thu N, N rủ K đi sang Camphuchia mua ma túy, K đồng ý. K và N đón xe taxi đến Cửa khẩu Quốc tế Bình Hiệp, thị xã K, tỉnh L xuống xe và kêu Lê Thành P (Bé) là người chạy xe honda ôm chở K và N đến Casino Darling, Camphuchia, N và K tiếp tục kêu xe honda ôm khác do người Camphuchia chở đến ngã 3 Lò Xúc, Campuchia gặp một người phụ nữ tên T (T là người Việt Nam sống tại Camphuchia). N và Trúc nói chuyện với nhau khoảng 15 phút, sau đó N và K đón xe buýt đến thành phố Nam Vang, Camphuchia. N và K vào quán uống nước gặp một người đàn ông tên Ty, N mua của ông Ty khoảng 01kg ma túy đá và 100gram ma túy loại khây, tất cả để trong một túi ni lông màu trắng, khi mua ma túy xong, N đưa túi nilon chứa ma túy cho K cầm giữ. N kêu xe taxi chở N và K về đến Casino Lucky, Campuchia rồi xuống xe. Lúc này, khoảng 19 giờ cùng ngày, N gọi điện thoại kêu Phi sang chở N và K về lại Bình Hiệp. Khi đến Casino Darling, N kêu Phi dừng lại, N xuống xe và nói Phi chở K về Bình Hiệp trước rồi quay trở lại rước N. Phi chở K qua Cửa khẩu Quốc tế Bình Hiệp về đến quán nước giải khát nhà của Phi, K vẫn còn cầm giữ túi ni lông chứa ma túy. Trong lúc K ngồi đợi Phi rước N quay lại thì lực lượng Bộ đội Biên phòng đến kiểm tra phát hiện số ma túy đựng trong túi ni lông, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Quốc K.
Tại bản Kết luận giám định số: 2888/C54B ngày 11/7/2018 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói ni lông (Gói M2.1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamin, khối lượng 100.1106 gam.
- Tinh thể màu trắng đựng trong gói ni lông màu trắng (Gói M2.2, M2.3) và cục chất màu trắng (Gói M2.4) đựng trong 01 gói ni lông được niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 1031,1155 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 09 tháng 04 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
Áp dụng Điểm b Khoản 4 Điều 250; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Quốc K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Quốc K tù chung thân. Thời gian thụ hình tính từ ngày 09/7/2018.
Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/4/2019 bị cáo Dương Quốc K xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 19/4/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 42/QĐ-VKS-P2 kháng nghị một phần bản án sơ thẩm đề nghị tăng mức hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Dương Quốc K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã nhận định và tuyên xử, bị cáo rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng án sơ thẩm đã xử đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong vụ án bị cáo chỉ là người bị rủ rê, lôi kéo phạm tội. Bị cáo có chú ruột là liệt sỹ, bà cố ngoại được phong tặng người mẹ Việt Nam anh hùng. Bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cha bị cáo bị bệnh, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo đã hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự. Tang vật ma túy thu giữ được chưa phát tán, chưa gây hậu quả cho xã hội. Bị cáo thực sự ăn năn nên đã rút yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn cũng đủ để răn đe và giáo dục bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tang vật thu giữ của bị cáo tổng cộng 1.131,2261 kg ma túy, đây là số lượng ma túy gấp 10 lần so với định lượng quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự mà bị cáo bị cấp sơ thẩm xét xử.
Việc Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân thực hiện xong nghĩa vụ quân sự, có chú ruột là liệt sĩ để áp dụng mức hình mức hình phạt chung thân đối với bị cáo không mang tính răn đe và giáo dục trong tình hình xã hội hiện nay. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình có bà cố là mẹ Việt Nam anh hùng nhưng so với hành vi phạm tội của bị cáo cũng không đủ để giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xử bị cáo Dương Quốc K về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo hướng tăng nặng hình phạt lên tử hình đối với bị cáo như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 20 giờ ngày 09/7/2018 Dương Quốc K bị lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Long An bắt quả tang đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng bắt quả tang và thu giữ ma túy gồm có: loại Ketamin, khối lượng 100.1106 gam và 1.031,1155 gam, loại Methamphetamine.
Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử bị cáo là đúng căn cứ pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo biết ma túy là chất độc hại đối với xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi trái phép liên quan đến ma túy đã xâm phạm trật tự trị an, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo vì tham lợi nên bị rủ rê phạm tội để được hưởng lợi 2 triệu đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt một mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo nên hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
Hội đồng xét phúc thẩm xử thấy: Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự, có chú ruột là liệt sỹ nên đã áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và xử bị cáo mức án tù chung thân theo tội danh và điều luật trên.
Tuy nhiên, xét bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Dương Quốc K mức án tù chung thân, là không phù hợp với tính chất, hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo. Việc áp dụng mức hình phạt nêu trên chưa thể hiện tính nghiêm minh trong việc áp dụng pháp luật, làm giảm tác dụng đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy nói chung cũng như tại địa bàn tỉnh Long An nói riêng. Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm chứng cứ: bà cố là mẹ Việt Nam anh hùng, nhưng xét với hành vi trên của bị cáo cần loại bị cáo vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An về việc đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương Quốc K phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 2 Điều 355, Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dương Quốc K do bị cáo rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa.
- Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
- Sửa bản án sơ thẩm như sau:
Áp dụng: Điểm b khoản 4 Điều 250; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Quốc K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Quốc K: Tử hình. Bị cáo bị bắt từ ngày 09/7/2018.
2. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Dương Quốc K phải chịu 200.000 đồng.
4. Trong thời hạn 07 ngày để từ ngày tuyên án bị cáo được quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án tử hình.
5. Các Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 09 tháng 04 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An ; - Cục THADS tỉnh Long An ; - Công an tỉnh Long An ; - Trại tạm giam CA tỉnh Long An; (Để t/đ cho bị cáo) (2); - Lưu (4). HS (2). 15 (MTTT) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huyền Vân |