vanban.org

Bản án 529/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đình H.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Đình H - Lâm Thị Ngọc K"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 529/2019/DS-PT
Ngày: 07-6-2019
V/v tranh chấp về hợp đồng thi

công và bồi thường thiệt hại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Đào Quốc Thịnh

Các"Thẩm"phán:"

Ông Nguyễn Hữu Thơ

Bà Trần Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Hoàng Anh Nga – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 16/5/2019 và ngày 07/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số

190/2019/TLPT-DS ngày 12 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh" chấp" về" hợp"

đồng"thi"công"và"bồi"thường"thiệt"hại”. "

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2018/DS-ST ngày 12/12/2018 của Tòa

án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1459/2019/QĐ-PT

ngày 28/3/2019, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2592/QĐ-PT ngày

22/4/2019 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 3760/2019/QĐPT-DS ngày

16/5/2019, giữa các đương sự:

Nguyên"đơn: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: 63/22 đường số 11, khu phố 9, phường A, quận D, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Bị"đơn: Bà Lâm Thị Ngọc K, sinh năm 1959 (có đơn đề nghị xét xử

vắng mặt)

Địa chỉ: 154/12 Q, Phường 2, Quận R, Thành phồ Hồ Chí Minh.

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"Bà Lương Tú X(vắng mặt)

Địa chỉ: 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4B, xã E, huyện B, Thành phố

Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo"nội"dung"bản"án"sơ"thẩm:""

Ông"Nguyễn"Đình"H"trình"bày"tại"đơn"khởi"kiện,"bản"tự"khai,"biên"bản"

hòa"giải"và"tại"phiên"tòa"như"sau:""

Tháng 11/2013, ông H và bà K ký Hợp đồng giao nhận sửa chữa và cải

tạo căn biệt thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4, xã E, huyện B (sau"đây" gọi"tắt"là"Hợp"đồng"tháng"11/2013). Sau khi hoàn thành những hạng mục trong hợp đồng và những phát sinh (trước tết) thì giữa ông H và bà K đã tất toán với nhau tổng giá trị hợp đồng là 695.000.000 đồng, bà K đã thanh toán đủ cho ông H số tiền mà hai bên đã tất toán, giữa ông H và bà K không còn tranh chấp liên quan đến hợp đồng giao nhận sửa chữa và cải tạo Căn biệt thự số 72."

Tháng 2/2014, bà K có yêu cầu ông H thiết kế và cải tạo lại sân vườn, hệ

thống báo trộm cùng một số hạng mục phát sinh khác của Căn biệt thự số 72. Tuy nhiên, việc thỏa thuận giữa hai bên không được lập thành văn bản mà hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau. Sau khi hoàn thành công việc theo thỏa thuận, ông H đã gởi bản quyết toán tổng cộng 250.000.000 đồng nhưng bà Kkhông thanh toán số tiền trên cho ông H.

Theo Chứng thư thẩm định giá số 0360517/CT-TV ngày 28/10/2017 của

Công ty cổ phần định giá và đầu tư kinh doanh bất động sản Thịnh Vượng thì hạng mục công trình thiết thiết kế và cải tạo lại sân vườn, hệ thống báo trộm cùng một số hạng mục phát sinh khác của Căn biệt thự số 72 lên đến 298.555.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bà K nói một số thông tin sai

sự thật, chứng cứ mơ hồ, cố tình tìm cách đối phó, nhằm hoang mang, hạ thấp tuy tín, nhân phẩm làm tổn thất cho ông H rất nhiều về công sức, tinh thần và thời gian.

Tại phiên tòa, ông H xác định yêu cầu khởi kiện đối với bà K như sau:

1. Yêu cầu bà K trả cho ông H số tiền 298.555.000 đ (hai trăm chín

mươi tám triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) theo kết quả chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần định giá và đầu tư kinh doanh bất động sản Thịnh Vượng lập (số 0360517/CT-TV) ngày 28/10/2017; lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định của pháp luật là lãi suất quá hạn tính từ ngày 15/5/2014 đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo lãi suất 10%/năm. Tạm tính đến ngày 12/12/2018 là 299.560.000 đ (hai trăm chín mươi chín triệu năm trăm sáu mươi ngàn đồng). Tổng cộng: 598.115.000 đ (năm trăm chín mươi tám triệu một trăm mười lăm ngàn đồng).

2. Yêu cầu bà K bồi thường thiệt hại do nhân phẩm, danh dự, tuy tín bị

xâm phạm là 100.000.000 đ (một trăm triệu đồng).

Bà"Lâm"Thị"Ngọc"K"trình"bày"trong"bản"tự"khai,"biên"bản"hòa"giải"như"

sau:""

Tháng 11/2013 ông H và bà K ký hợp đồng giao nhận sửa chữa và cải

tạo căn biệt thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4, xã E, huyện B. Sau khi

hoàn thành những hạng mục trong hợp đồng và những phát sinh (trước tết) thì

giữa ông H và bà K đã tất toán với nhau tổng giá trị hợp đồng là 695.000.000

đ(sáu trăm chín mươi lăm triệu đồng), bà K đã thanh toán đủ cho ông H số tiền

mà hai bên đã tất toán, giữa ông H và bà K không còn tranh chấp liên quan đến

hợp đồng giao nhận sửa chữa và cải tạo căn biệt thư số 72 Đường số 9, khu dân

cư S, ấp 4, xã E, huyện B.

Đối với việc thiết kế và cải tạo lại sân vườn, hệ thống báo trộm cùng một

số hạng mục phát sinh khác của căn biệt thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp

4, xã E, huyện B thì bà Kcó ý kiến như sau: Bà K không có yêu cầu ông H thực

hiện công trình thiết kế, cải tạo sân vườn, hệ thống báo trộm và một số hạng

mục khác của căn biệt thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4, xã E, huyện B

theo như lời trình bày của ông H. Do đó, bà K không đồng ý với toàn bộ yêu

cầu khởi kiện của ông H.

Bà Lương Tú X vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án

nên không thể hiện ý kiến của bà Lương Tú X.

Tại"Bản"án"dân"sự"sơ"thẩm"số"200/2018/DS-ST"ngày"12/12/2018"của"Tòa"

án"nhân"dân"huyện"B,"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tuyên"xử:""

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình H đối với bà

Lâm Thị Ngọc K.

2. Về án phí:

Ông H chịu 31.924.600 đ (ba mươi mốt triệu chín trăm hai mươi bốn

triệu sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ với số tiền 6.888.000 đ

(sáu triệu tám trăm tám mươi tám ngàn đồng) mà ông Nguyễn Đình H đã nộp

theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0009338 ngày 11/11/2015 của

Chi cục Thi hành án dân sự huyện B; được cấn trừ với số tiền 2.500.000 đ (hai

triệu năm trăm ngàn đồng) là số tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Đình H đã

nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0009338 ngày 11/11/2015

của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Ông Nguyễn Đình H còn phải nộp

thêm số tiền: 22.536.600 đ (hai mươi hai triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn sáu

trăm đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về quyền, nghĩa vụ thi

hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau"khi"xét"xử"sơ"thẩm,"""""

Ngày 25/12/2018, ông Nguyễn Đình H làm đơn kháng cáo toàn bộ bản

án sơ thẩm, yêu cầu sửa án sơ thẩm do bản án sơ thẩm gây ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của ông.

Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm:""

Nguyên"đơn"trình"bày:"Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ông không có thi

công công trình cải tạo và sửa chữa phát sinh giai đoạn 2 đối với căn nhà số 72 và việc bà K cho rằng ông thi công không được sự đồng ý của bà K là không đúng sự thật vì các lý do sau:

- Tất cả việc thi công đều có thỏa thuận bằng miệng với nhau.

- Tại Biên bản bản giao chứng cứ ngày 12/8/2016 của bà Kgiao trực tiếp

cho ông tại Tòa án nhân dân huyện B có Bảng báo giá khối lượng công trình mà bà Kđã thanh toán, lúc đầu ông không nhận và có gạch bỏ nhưng sau đó ông có ký nhận lại. Chính điều này thể hiện ông có thi công cho bà Hiền.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

ông.

Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" Thành" phố" Hồ" Chí" Minh" phát" biểu"

quan"điểm:

Về"tố"tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Chủ tọa,

Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật, những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định.

Về"nội"dung: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện : Sau khi thực hiện xong Hợp

đồng thi công tháng 11/2013, thì ông H có tiếp tục thi công sửa chữa đối với căn biệt thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4, xã E, huyện B. Tuy nhiên, hai bên không thống nhất được: Việc làm này được có thỏa thuận hay không; Thỏa thuận với ai; Thỏa thuận thi công đối với hạng mục nào; Thực tế đã thi công được hạng mục nào; Số tiền bà K đã trả cho ông H là bao nhiêu?

Như vậy là có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa các bên đương sự nhưng

Tòa án cấp sơ thẩm đã không tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 100 Bộ luật Tố tụng dân sự là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông

Nguyễn Đình H, hủy bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]."Về"hình"thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đình H trong hạn

luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

Về"thủ"tục"tố"tụng"xét"xử"vắng"mặt"đương"sự: Bà Lâm Thị Ngọc K có

đơn xin xét xử vắng mặt, bà Lương Tú X được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà K, bà X.

"[2]."Về"nội"dung"kháng"cáo:"""""

[2.1]. Theo nội dung Biên bản hòa giải lập ngày 06/01/2016 phần trình

bày của bà K (Bút"lục"số"154), bà K xác định những vấn đề sau:

- Tháng 12/2013 ông H và bà K ký hợp đồng sửa chữa và cải tạo căn biệt

thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4, xã E, huyện B với chi phí là

345.000.000 đồng.

- Trong khi thi công ông H tự có thực hiện phần phát sinh ngoài khối

lượng của hợp đồng ban đầu.

- Bà K đã thanh toán: 630.000.000 đồng gồm:

+ Phần Hợp đồng tháng 11/2013"là 345.000.000 đồng;

+ Phần hợp đồng thi công lần 2 (tức phần phát sinh ) 250.000.000 đồng;

+ Hóa đơn: 35.000.000 đồng.

- Sau tết âm lịch, ông H có gửi email đòi bà K số tiền là 362.000.000

đồng nhưng bà K không chấp nhận trả vì ông H thi công cẩu thả chưa bàn giao

công trình, công trình không đạt chất lượng, hệ thống bình lọc nước không thể

hoạt động được.

Vì vậy có căn cứ xác định, ngoài khối lượng của Hợp đồng tháng

11/2013 (345.000.000 đồng), ông H còn thực hiện phần khối lượng phát sinh

thêm ngoài Hợp đồng tháng 11/2013 và đã được bà K thanh toán đối với phần

phát sinh này là 285.000.000 đồng (theo lời khai của bà K).

Cũng theo nội dung Biên bản hòa giải lập ngày 06/01/2016, phần trình

bày của ông H (Bút"lục"số"155), ông H xác nhận có nhận của bà K tổng cộng là

665.000.000 đồng.

[2.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp 02 (hai) Biên bản

bàn giao chứng cứ ngày 12/8/2016 do ông H và bà K lập để giao nộp chứng cứ

cho nhau, trong đó:

- Ông H cung cấp cho bà K các giấy tờ thi công từ ngày 10/02/2014 đến

ngày 30/3/2014, giá trị là 250.000.000 đồng (theo như đơn khởi kiện);

- Bà K cung cấp chứng cứ cho ông H trong đó có “Bảng"báo"giá"khối"

lượng"công"trình"tôi"đã"thanh"toán”. Mặc dù đã được gạch bỏ nhưng sau đó vẫn

có chữ ký của ông H “đã nhận”.

Tài liệu trong hồ sơ (Bút"lục"số"19"và"20) thể hiện: Ngày 19/7/2016, Tòa

án nhân dân huyện B có Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp

cận, công khai chứng cứ và hòa giải triệu tập đương sự tham gia vào lúc 08 giờ

30 ngày 12/8/2016. Ngày 12/8/2016, Tòa án cấp sơ thẩm có lập Biên bản ghi

nhận sự vắng mặt do bà Lương Tú X vắng mặt. Tuy nhiên, trong biên bản này

không thể hiện ý kiến của nguyên đơn và bị đơn có đồng ý tiến hành phiên họp

kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà vắng mặt bà

X hay không.

Do Tòa án cấp sơ thẩm cũng không thực hiện phiên họp kiểm tra việc

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 20/8/2016 và các lần Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải sau ngày 12/8/2016 không có đề cập đến chứng cứ do bà K cung cấp nên việc tại phiên tòa phúc thẩm ông H xuất trình chứng cứ là Biên bản bàn giao chứng cứ ngày 12/8/2016 giữa bà K và ông H trong đó có “Bảng"báo"giá" khối" lượng" công" trình" tôi" đã" thanh" toán” là có hay không và nội dung của “Bảng"báo"giá"khối"lượng"công"trình"tôi"đã"thanh"toán” là như thế nào thì Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để xác định.

[2.3] Từ nhận định [2.1] và [2.2] có căn cứ xác định như sau: Sau khi

thực hiện xong Hợp đồng thi công tháng 11/2013 với giá trị 345.000.000 đồng, ông H có tiếp tục thi công sửa chữa đối với căn biệt thự số 72 Đường số 9, khu dân cư S, ấp 4, xã E, huyện B. Tuy nhiên, giữa ông H và bà K không thống nhất được: Việc làm này được có thỏa thuận hay không; Thỏa thuận với ai (nếu có, vì theo Hợp đồng thi công tháng 11/2013 bà K chỉ là người đại diện ký hợp đồng); Thỏa thuận thi công đối với hạng mục nào; Thực tế đã thi công được hạng mục nào; Số tiền bà K đã trả cho ông H là bao nhiêu (665.000.000"đồng"–"như"lời" khai"ông"H"hay"630.000.000"đồng"như"lời"khai"của"bà"K)?

Như vậy là có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa các bên đương sự nhưng

Tòa án cấp sơ thẩm đã không tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 100 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà K vắng mặt nên cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, do vậy cần hủy bản bán sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Việc chưa giải quyết được tranh chấp về hợp đồng thi công thì không thể

giải quyết phần tranh chấp về bồi thường thiệt hại, do vậy cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh về nội dung vụ kiện là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo

của ông Nguyễn Đình H; Hủy bản án sơ thẩm.

[3]." Về" án" phí" dân" sự" phúc" thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên người

kháng cáo ông Nguyễn Đình H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. "

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 29, khoản 2 Điều 47 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đình H.

Tuyên xử:

1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2018/DS-ST ngày 12/12/2018 của

Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh"xét xử vụ án tranh chấp về

hợp đồng thi công và bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn ông Nguyễn Đình H

và bị đơn bà Lâm Thị Ngọc K; Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện

B giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân

sự phúc thẩm mà ông Nguyễn Đình H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu

tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006603 ngày 25/12/2018 của Chi

cục Thi hành án Dân sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành

án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật

Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Thơ

Trần Thị Thương

Đào Quốc Thịnh

Cỡ chữ