- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Tấn A đối với chị Nguyễn Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 529/2018/HNGĐ-ST; Ngày: 11/10/2018; V/v tranh chấp “Ly hôn. nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Trung Trực;
2/ Bà Dương Hiền Huệ;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc, thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Lý Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 350/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2018/QĐXX-ST ngày 05/9/2018 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Đỗ Tấn A – sinh năm: 1981;
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
*Bị đơn: Chị Nguyễn Thị B - sinh năm: 1991;
Địa chỉ: ấp M1, xã N1, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
(Anh A có mặt, chị B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đỗ Tấn A trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị B cưới nhau vào năm 2009 do quen biết và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 30/2009, ngày 04/5/2009. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nên chị B đã tự ý bỏ về nhà cha mẹ sinh sống từ năm 2013 cho đến
- 2 -
nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị B.
- Về con chung: Có hai con chung, các cháu tên Đỗ Thị Diễm C - sinh năm 2010 và Nguyễn Thị Diễm D - sinh năm 2013. Hiện tại, cháu Đỗ Thị Diễm C đang sống với anh, cháu Nguyễn Thị Diễm D đang sống chung với chị B. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu lớn, còn cháu nhỏ để chị B tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi cháu nhỏ và cũng không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi cháu lớn.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị B vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ và chị B không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Về nội dung xét thấy việc mâu thuẫn giữa anh A và chị B là có thật, thời gian ly thân đã kéo dài, Tòa án đã triệu tập chị B nhiều lần nhưng chị B đều vắng mặt, qua đó cho thấy chị B không muốn hàn gắng tình cảm với anh A nên yêu cầu ly hôn của anh A là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung, hiện cháu Đỗ Thị Diễm C đang sống ổn định với anh A, cháu Nguyễn Thị Diễm D đang sống ổn định với chị B nên yêu cầu nuôi con chung của anh A là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Đỗ Tấn A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị B, giải quyết vấn đề con chung của anh chị, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn” theo quy định tại Điều 51 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị Nguyễn Thị B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị B.
Đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A, Tòa xét thấy: Tại phiên tòa anh A trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là bất đồng quan điểm về cách sống, cách nghĩ và thường xuyên cự cãi nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị B đã bỏ về nhà cha mẹ sinh sống từ năm 2013 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập chị B nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng chị B vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A, qua đó cho thấy chị B không có thành ý cứu vãn mối quan hệ hôn nhân với anh A. Do đó, Tòa án xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng không thể hàn gắn được, mục
- 3 -
đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của anh A, cho anh A được ly hôn với chị B.
Về con chung: Hiện tại cháu Đỗ Thị Diễm C đang sống ổn định với anh A, cháu Nguyễn Thị Diễm D đang sống ổn định với chị B. Xét thấy yêu cầu nuôi cháu Đỗ Thị Diễm C của anh A là có cơ sở và phù hợp với nguyện vọng của cháu C nên Tòa án chấp nhận.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Về án phí: Anh A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Tấn A đối với chị Nguyễn Thị B.
- Về tình cảm: Anh Đỗ Tấn A được ly hôn với chị Nguyễn Thị B.
- Về con chung:
+ Anh Đỗ Tấn A được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đỗ Thị Diễm C, sinh ngày 01/9/2010.
+ Chị Nguyễn Thị B được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Diễm D, sinh ngày 07/12/2013.
+ Chị Nguyễn Thị B và anh Đỗ Tấn A được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
2. Án phí: Anh Đỗ Tấn A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014826 ngày 10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, như vậy anh A đã thi hành xong.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Anh Đỗ Tấn A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thơi hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
- 4 -
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh TG; - VKSND huyện X; - Chi cục THADS huyện X; - UBND xã N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Cao Thị Thu Thủy |