vanban.org

Bản án 528/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

Về quan hệ vợ chồng: Bà Phan Thị Cẩm G được ly hôn Ông Võ Về con chung: Giao trẻ Võ Minh Q sinh ngày 23/3/2018 cho Ông T trực Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "cam G- trung T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 528/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2019
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thu Cúc.

2/ Bà Đỗ Thị A.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân

Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận 10, số 27

đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 398/2019/TLST-HNGĐ ngày 20/6/2019, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 20/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2019/QĐST-DS ngày 06/9/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm G, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: E7/201 ấp 5, xã P, huyện B, Thành phố H.

Bị đơn: Ông Võ Trung T, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: 20/18 HK, Phường B, Quận A, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/6/2019, trong quá trình tố tụng cũng như tại

bản tự khai nguyên đơn Bà Phan Thị Cẩm G trình bày:

Bà G và Ông T tự nguyện chung sống từ năm 2015, đăng ký kết hôn tại

Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 10 theo giấy chứng nhận kết hôn số 82, quyển số 1, ngày 03/11/2015.

Quá trình chung sống, vợ chồng tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân.

Tuy nhiên, thời gian đầu sống rất hạnh phúc cho đến khi có con thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do các bên bất đồng quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày xa cách mà thể hàn gắn. Do vợ chồng không còn tình cảm nên Bà G nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà G xin được ly hôn với Ông T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Minh Q sinh ngày 23/3/2018. Khi

ly hôn Bà G đồng ý giao con cho Ông T nuôi và không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà G khai không có không yêu cầu toà án

giải quyết.

Bị đơn Ông Võ Trung T tại bản tự khai xác nhận quá trình chung sống

được thời gian đầu hạnh phúc. Sau đó, Bà G thường xuyên có những hành động, lời nói khác thường và hay bỏ nhà đi qua đêm. Ông T đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không được và ông biết Bà G đã có người khác bên ngoài. Ông không đồng ý ly hôn vì muốn làm sáng tỏ những sai trái của Bà G trong cuộc sống hôn nhân.

Về con chung: có 01 con chung tên Võ Minh Q sinh ngày 23/3/2018. Ông

T đồng ý nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T khai không có không yêu cầu toà án

giải quyết.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai

chứng cứ và hòa giải nhưng do bị đơn vắng mặt, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ vào lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số hôn số 82,

quyển số 1, ngày 03/11/2015 của Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 10 , có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa Ông Võ Trung T và Bà Phan Thị Cẩm G là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, nay Bà G yêu cầu ly hôn là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Về thẩm quyền: Bị đơn Ông T hiện đang cư trú tại Quận 10, Thành

phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Xét bị đơn Ông Võ Trung T đã được Tòa

án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn Bà Phan Thị Cẩm G là hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng

Về nội dung:

Xét yêu cầu xin ly hôn của Bà G, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập nhiều lần nhưng chỉ đến

Tòa cung cấp bản khai và không tham gia hòa giải cũng như không đưa ra được những tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình.

Tại bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được, Bà G trình

bày, vợ chồng sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã ly thân. Nguyên nhân là cả hai bất đồng quan điểm sống, Bà G đã bỏ nhà đi nhiều lần để giảm bớt mâu thuẫ nhưng vẫn không có kết quả. Bản thân Ông T cũng thừa nhận Bà G bỏ nhà đi không quan tâm chăm sóc gia đình. Mặc khác, Bà G còn phát sinh tình cảm khác bên ngoài dù đang trong thời kỳ hôn nhân với Ông T. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nay Bà G xin ly hôn Ông T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Minh Q sinh ngày

23/3/2018. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình quy định ‘‘Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con..” Hiện trẻ Q dưới 03 tuổi và đang được Ông T chăm sóc, giáo dục. Bản thân Bà G cũng đồng ý với việc giao con cho Ông T nuôi vì bà chưa có công việc và nơi ở ổn định. Do đó, việc giao trẻ Q cho Ông T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quyền lợi và quy định pháp luật nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con Ông T không yêu cầu nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Cả hai cùng khai không có nên không yêu

cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Bà G phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy

định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 56, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227,

Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 5, khoản 8 Điều 27 của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án;

Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

Về quan hệ vợ chồng: Bà Phan Thị Cẩm G được ly hôn Ông Võ

Trung T.

Về con chung: Giao trẻ Võ Minh Q sinh ngày 23/3/2018 cho Ông T trực

tiếp nuôi dưỡng. Bà G không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bà G có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng viêc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá

nhân, tổ chức theo quy định của pháp luât, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Về tài sản chung: Cả hai khai không có nên không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Bà G chịu 300.000 đồng,

nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0017500 ngày 19/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được

tống đạt hợp lệ đối với Bà G, Ông T.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ