vanban.org

Bản án 527/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam): Bị đơn bà Nguyễn Thị Đoan C có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) số tiền là 429.712.170 (Bốn trăm hai mươi chín triệu bảy trăm mười hai nghìn một trăm bảy mươi) đồng. Thanh toán m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 527/2023/DS-ST
Ngày 27 - 9 - 2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liên

2. Ông Nguyễn Văn Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 608/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam); Trụ sở: Đường G, phường K, quận B, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Michele Wee Sung S1 – chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn: Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1994, địa chỉ liên hệ: Đường L, phường P, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đoan C, sinh năm 1977; Địa chỉ cư trú: Đường D, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của Bị đơn: ông Hoàng Kim Q1– sinh năm 1975; Địa chỉ liên hệ: Đường R, Phường N, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) có người đại diện hợp pháp là ông Lê Hồng Q là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Căn cứ theo Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ký ngày 22/11/2019, căn cứ Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Đoan C theo chi tiết như sau:

- Khoản vay số 1410385, số tiền vay 179.000.000 đồng, ngày giải ngân 27/11/2019, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Lãi suất vay được quy định như sau: Lãi suất trong hạn 17%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ theo Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ký ngày 26/06/2020 căn cứ Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Đoan C theo chi tiết như sau:

- Khoản vay số 1537318, số tiền vay 453.000.000 đồng, ngày giải ngân 30/06/2020; Thời hạn vay: 60 tháng. Mục đích: Vay tiêu dùng. Lãi suất vay được quy định như sau: Lãi suất trong hạn 14,75%/ năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Trong quá trình cấp tín dụng, bà Nguyễn Thị Đoan C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó ngày 18/05/2022, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) đã có Thông báo chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn yêu cầu bà Nguyễn Thị Đoan C thanh toán toàn bộ dư nợ còn thiếu của khoản vay nêu trên, tuy nhiên đến nay bà Nguyễn Thị Đoan C vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với số nợ còn lại. Tính đến ngày 18/05/2022, bà Nguyễn Thị Đoan C còn nợ tổng số tiền như sau:

- Khoản vay số 1410385 ngày 27/11/2019: Số tiền 119.586.188 đồng, trong đó nợ gốc là 98.809.111 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.858.651 đồng, lãi phạt và phí là 918.426 đồng.

- Khoản vay số 1537318 ngày 30/6/2020: Số tiền 355.125.982 đồng, trong đó nợ gốc là 309.030.370 đồng, nợ lãi trong hạn là 24.693.175 đồng, lãi phạt và phí là 1.402.437 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Đoan C trả cho Ngân hàng TNHH MTV S (Việt Nam) toàn bộ số tiền nợ trên và có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 19/5/2022 cho đến khi thanh toán xong.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Đoan C vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) có người đại diện hợp pháp là ông Lê Hồng Q là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt, gửi bản trình bày ý kiến yêu cầu bà Nguyễn Thị Đoan C trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2023.

- Khoản vay số 1410385 ngày 27/11/2019: Số tiền 109.586.188 đồng, trong đó nợ gốc là 98.809.111 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.858.651 đồng, lãi phạt và phí là 918.426 đồng.

- Khoản vay số 1537318 ngày 30/6/2020: Số tiền 320.125.982 đồng, trong đó nợ gốc là 294.030.370 đồng, nợ lãi trong hạn là 24.693.175 đồng, lãi phạt và phí là 1.402.437 đồng.

Không yêu cầu tính lãi trên dư nợ gốc của 2 khoản vay từ ngày 18/5/2022

cho đến ngày Tòa án xét xử là 27/9/2023. Yêu cầu thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bà C có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Đoan C có người đại diện hợp pháp là ông Hoàng Kim Q1 trình bày: Bị đơn xác nhận việc ký kết hợp đồng với Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam), cụ thể: Khoản vay số 1410385, số tiền vay 179.000.000 đồng, ngày giải ngân 27/11/2019, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng. Lãi suất vay được quy định như sau: Lãi suất trong hạn 17%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn và khoản vay số 1537318, số tiền vay 453.000.000 đồng, ngày giải ngân 30/06/2020; Thời hạn vay: 60 tháng. Mục đích: Vay tiêu dùng. Lãi suất vay được quy định như sau: Lãi suất trong hạn 14,75%/ năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà C đã trả được một phần gốc và lãi tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn, ảnh hưởng dịch bệnh covid 19 nên bà C không thể tiếp tục thanh toán cho ngân hàng. Nay ngân hàng khởi kiện bà C đồng ý trả nợ nhưng do hiện nay cũng gặp khó khăn nên xin ngân hàng tạo điều kiện cho bà C trả nợ dần trong thời gian 2 năm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy

định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa.

- Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của Nguyên đơn là phù hợp theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều

35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị Đoan C tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

- Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân

Bình: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) do ông Lê Hồng Q là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ Bị đơn bà Nguyễn Thị Đoan C đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng Bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn bà Nguyễn Thị Đoan C có ông Hoàng Kim Q1 là người đại diện theo ủy quyền có mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Xét yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/9/2023 là 429.712.170 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ các Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ký ngày 22/11/2019 và ngày 26/06/2020, căn cứ Bản các điều khoản và điều kiện khoản vay tiêu dùng cá nhân, Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Đoan C thì giữa Nguyên đơn và Bị đơn đã giao kết hợp đồng vay tài sản.

Căn cứ bảng sao kê tài khoản chi tiết gốc, lãi và phí do Nguyên đơn cung cấp thì Bị đơn còn nợ nguyên đơn tính đến ngày 27/9/2023, cụ thể: Khoản vay số 1410385 ngày 27/11/2019 là 109.586.188 đồng (nợ gốc 98.809.111 đồng, nợ lãi trong hạn 9.858.651 đồng, lãi phạt và phí 918.426 đồng); Khoản vay số 1537318 ngày 30/6/2020 là 320.125.982 đồng (nợ gốc 294.030.370 đồng, nợ lãi trong hạn 24.693.175 đồng, lãi phạt và phí 1.402.437 đồng). Tổng cộng 2 khoản vay: 429.712.170 đồng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Nguyên đơn khởi kiện, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của Bị đơn xác nhận khoản nợ vay đối với Nguyên đơn, yêu cầu gia hạn thời gian để tạo điều kiện cho Bị đơn thanh toán. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của của Nguyên đơn và Bị đơn cùng các chứng cứ có trong hồ sơ xác định tính đến ngày 27/9/2023 Bị đơn còn thiếu Nguyên đơn số tiền 429.712.170 đồng.

Xét ý kiến của Nguyên đơn không yêu cầu tính tiền lãi trên dư nợ gốc của 2 khoản vay từ ngày 18/5/2022 cho đến ngày Tòa án xét xử là 27/9/2023 là tự nguyện, có lợi cho Bị đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm

2015 và các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, buộc Bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 429.712.170 đồng.

Ngoài số tiền trên, Bị đơn còn phải thanh toán cho Nguyên đơn tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tính từ ngày 28/9/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đồng. Hoàn lại cho Nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam):

Bị đơn bà Nguyễn Thị Đoan C có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) số tiền là 429.712.170 (Bốn trăm hai mươi chín triệu bảy trăm mười hai nghìn một trăm bảy mươi) đồng. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Đoan C phải chịu 21.188.486 (Hai mươi mốt triệu một trăm tám mươi tám ngàn bốn trăm tám mươi sáu) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Trách nhiệm hữu hạn MTV S (Việt Nam) số tiền 11.094.243 (Mười một triệu không trăm chín mươi bốn ngàn hai trăm bốn mươi ba) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009167 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ