- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang Đại - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Quang Đ và sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 527/2022/HS-PT Ngày: 13-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 491/2022/HSPT ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Trần Quang Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 126/2022/HSST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Quang Đ, Giới tính: Nam; Sinh năm 1994 tại tỉnh Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 284/5 Cô B, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 2 Tổ C, Khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ chụp ảnh tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần T và con bà Nguyễn Thị Bạch L; Hoàn cảnh gia đình: bị cáo có vợ (đã ly hôn) và có 01 con (sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/8/2022, đến ngày 16/8/2022 được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 09/8/2022, Trần Quang Đ và chị Phan Thanh Thu N (chị N là vợ cũ của Đ) cùng đi uống bia và xảy ra cãi nhau. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 10/8/2022, chị N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Ariblade, biển kiểm soát 59D2-404.91 chở Đ đi trên đường L, phường B, Quận A. Khi đến trước Tổng Lãnh sự quán Mỹ, địa chỉ: số D L, phường B, Quận A thì hai bên tiếp tục cự cãi, Đại nhảy xuống xe rồi cãi nhau với chị N. Do bực tức và đã sử dụng bia, Đ đến trước cửa Tổng Lãnh sự quán M dùng tay đập vào cửa dành cho nhân viên ra vào, nên anh Nguyễn Công L1 là cán bộ Phòng Cảnh sát bảo vệ Công an Thành phố H trực bảo vệ mục tiêu đến nhắc nhở, yêu cầu Đ rời khỏi khu vực bảo vệ nhưng Đ tiếp tục dùng tay đập vào cửa ra vào. Lúc này, anh L1 thông báo đơn vị cử cán bộ đến hỗ trợ và tiếp tục yêu cầu Đ di chuyển ra khỏi khu vực nhưng Đ không chấp hành, chửi mắng anh L1 nên anh L1 đẩy Đ xuống lòng đường. Khi đó, các anh Trần Tuấn A, Mai Quốc B là cán bộ Phòng Cảnh sát bảo vệ đến hỗ trợ, yêu cầu Đ rời khỏi khu vực nhưng Đ tiếp tục chửi mắng anh Tuấn A, rồi Đ dùng tay phải tát vào mặt anh Tuấn A 01 cái nên anh B, anh L1 bắt giữ Đ đưa về trụ sở Công an phường B, Quận A tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 126/2022/HS-ST ngày 19-9-2022 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt Trần Quang Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/9/2022 Tòa án xét xử sơ thẩm, cùng ngày 19/9/2022 bị cáo Trần Quang Đ có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Quang Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện, đồng thời bị cáo bổ sung yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Quang Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và tuyên phạt mức án 01 năm tù là phù hợp. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tình tiết mẹ bị cáo đang nhập viện điều trị bệnh suy thận và bị cáo là người cấp dưỡng nuôi con nhỏ (sinh năm 2018) nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và tuyên bị cáo phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 với mức án từ 09 tháng đến 10 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào tối ngày 09/8/2022, Trần Quang Đ và chị Phan Thanh Thu N (chị N là vợ cũ của Đ) cùng đi uống bia và xảy ra cãi nhau. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 10/8/2022, chị N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Ariblade, biển kiểm soát 59D2-404.91 chở Đ đi trên đường L, phường B, Quận A. Khi đến trước Tổng Lãnh sự quán Mỹ, địa chỉ: số D L, phường B, Quận A thì hai bên tiếp tục cự cãi, Đại nhảy xuống xe rồi cãi nhau với chị N. Do bực tức và đã sử dụng bia, Đ đến trước cửa Tổng Lãnh sự quán M dùng tay đập vào cửa dành cho nhân viên ra vào, nên anh Nguyễn Công L1 là cán bộ Phòng Cảnh sát bảo vệ Công an Thành phố H trực bảo vệ mục tiêu đến nhắc nhở, yêu cầu Đ rời khỏi khu vực bảo vệ nhưng Đ tiếp tục dùng tay đập vào cửa ra vào. Lúc này, anh L1 thông báo đơn vị cử cán bộ đến hỗ trợ và tiếp tục yêu cầu Đ di chuyển ra khỏi khu vực nhưng Đ không chấp hành, chửi mắng anh L1 nên anh L1 đẩy Đ xuống lòng đường. Khi đó, các anh Trần Tuấn A, Mai Quốc B là cán bộ Phòng Cảnh sát bảo vệ đến hỗ trợ, yêu cầu Đ rời khỏi khu vực nhưng Đ tiếp tục chửi mắng anh Tuấn A, rồi Đ dùng tay phải tát vào mặt anh Tuấn A 01 cái nên anh B, anh L1 bắt giữ Đ đưa về trụ sở Công an phường B, Quận A tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Với các hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử bị cáo Trần Quang Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, 19/9/2022 bị cáo Trần Quang Đ có đơn kháng cáo. Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên hợp lệ để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo:
Bị cáo Trần Quang Đ đã có hành vi đập cửa ra vào của Tổng Lãnh sự quán M1 và khi bị cán bộ Phòng Cảnh sát bảo vệ Công an Thành phố H đang làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự tại khu vực này nhắc nhở, yêu cầu rời đi thì bị cáo lại có hành vi chống đối, tát vào mặt của cán bộ Phòng Cảnh sát bảo vệ. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Quang Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết này để xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bị cáo Trần Quang Đ xuất trình thêm tình tiết bị cáo phải cấp dưỡng nuôi con nhỏ (sinh năm 2018) và chăm sóc cha mẹ già, bị bệnh (có hồ sơ bệnh án của cha mẹ bị cáo thể hiện mẹ bị cáo đang nhập viện điều trị bệnh suy thận, cha bị cáo bị bệnh gan nhiễm mỡ, sỏi thận, sỏi túi mật), nghĩ cũng nên áp dụng các tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo. Xét thấy, với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên (tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng và tình tiết giảm nhẹ bị cáo cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm) thì mức án 01 năm tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo. Về yêu cầu xin được hưởng án treo, mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nhân thân tốt, nhưng bị cáo đã có hành vi xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ, xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công tại trước Lãnh sự quán nên cần phải có mức án nghiêm để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Những lập luận nêu trên cũng phù hợp với lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 345; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 455; Điều 456; Điều 464 và Điều 465 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Quang Đ và sửa bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Trần Quang Đ 10 (mười) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 10/8/2022 đến ngày 16/8/2022.
3. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án;
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận 1; (1) - P.PC 53 - CA TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - THA Quận 1; (2) - TAND Quận 1; (2) - Công an Quận 1; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (18) (3) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Ngọc Thắng |