vanban.org

Bản án 527/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc S:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Võ Ngọc S được ly hôn với bà Hứa Kim H. Giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông S và bà H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc S:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 527/2021/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 5 - 2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phẹo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc;

2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 560/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 170/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Ngọc S, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Số 22 đường số 37, tổ 5, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Hứa Kim H, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 22 đường số 37, tổ 5, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 05/5/2020, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Ngọc S trình bày:

Ông và bà Hứa Kim H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2015. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống. Ông và bà H ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Bà H có tình cảm với người đàn ông khác. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không còn ý nghĩa ông yêu cầu được ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông S trình bày có 01 (một) con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 29/11/2017. Ông S yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông S trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông S trình bày không có.

Bà Hứa Kim H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà H vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 05/5/2020, ông Võ Ngọc S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho ông ly hôn với bà Hứa Kim H hiện đang cư trú tại: Số 22 đường số 37, tổ 5, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bà Hứa Kim H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà H vẫn không đến để tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Võ Ngọc S và bà Hứa Kim H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 111, Quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét lời trình bày của ông Võ Ngọc S thì sau kết hôn giữa ông và bà H đã có nhiều khác biệt về cách sống và quan điểm sống, thường cãi nhau, đã không cảm thấy hạnh phúc. Bà H có tình cảm với người đàn ông khác. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.

Bà H đã được Tòa triệu tập nhưng bà không đến Tòa, đồng thời cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến chứng tỏ bà H không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông S và bà H đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận cho ông S được ly hôn với bà H theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông S và bà H có 01 (một) con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 29/11/2017. Xét trẻ Toàn hiện đang chung sống với ông S, để tạo tâm lý ổn định cho trẻ nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Võ Minh T cho ông S nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, ông S tạm thời không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: ông S trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông S trình bày không có.

Bà Hứa Kim H vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu bà H có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.

Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc ông Võ Ngọc S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc S:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Võ Ngọc S được ly hôn với bà Hứa Kim H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Ông Võ Ngọc S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 (một) con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 29/11/2017; ghi nhận sự tự nguyện của ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp bà H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông S có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà H.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Nếu bà H có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.

5. Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Võ Ngọc S phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông S đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0083998 ngày 09/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ